trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Văn Tài. 2. Ông Phạm Quang Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thị Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân huyện X, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

TRẦN VĂN B, sinh năm: 1994, tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H, sinh năm: 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Có 01 tiền án (Tại Bản án 126/2022/HSST ngày 20-9-2022, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 16-5-2023).

Tiền sự: Có 01 tiền sự (Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 24-5-2022, Công an xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”).

Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 77/QĐ-XPVPHC, ngày 03-7-2015, Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong ngày 09-7-2015.

- Tại Bản án 491/2016/HSST, ngày 15-11-2016, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 17-02-2017.

- Tại Bản án số 91/2017/HSST ngày 29-11-2017, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 02-4-2018.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-02-2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Bị hại:

Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1990. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lâm Thị Ngọc T, sinh năm: 2009. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm: 2003. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 11-7-2023, chị Lâm Thị Ngọc T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh-đen, mang biển số 60B6-732.39 chở bị cáo Trần Văn B1 lưu thông trên Tỉnh lộ 763 để tìm nơi xin việc làm. Khi đến tiệm rửa xe ô tô của anh Nguyễn Văn H2, thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai đang mở cửa, bị cáo nói chị Lâm Thị Ngọc T dừng xe để bị cáo vào tiệm rửa xe xin việc làm. Bị cáo không thấy ai nên vào nhà đến phòng ngủ, thấy anh Nguyễn Văn H2 đang ngủ. Bị cáo lấy 01 ví da, bên trong có 876.000 đồng và 01 cái điện thoại di động hiệu Iphone XSmax, màu vàn, bỏ vào túi quần rồi ra xe chị Lâm Thị Ngọc T chở đi. Sau đó, bị cáo điều khiển xe chở chị Lâm Thị Ngọc T đến huyện C, tỉnh Đồng Nai tìm chỗ bán cái điện thoại di động, nhưng do không mở được mật khẩu, nên bị cáo đã vứt điện thoại xuống mương nước, còn số tiền 876.000 đồng bị cáo tiêu xài cá nhân.

Qua điều tra, xác minh, ngày 15-7-2023 Công an xã S, huyện X triệu tập bị cáo lên làm việc. Trong quá trình làm việc, lợi dụng sơ hở bị cáo đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã khởi tố bị can và ra quyết định truy nã. Đến ngày 08-02-2024, Trần Văn B1 bị Công an xã T, huyện T, tỉnh nghệ An bắt theo Quyết định truy nã số 202/QĐTN-ĐCSHS ngày 26-01-2024.

* Trị giá 01 cái điện thoại nhãn hiệu Iphone XSmax, màu vàng của anh Nguyễn Văn H2 là 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

Vật chứng vụ án thu giữ:

  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh-đen, mang biển số 60B6-732.39; 01 (Một) cái mũ lưỡi trai, màu đen; 01 (Một) cái mũ bảo hiểm màu đen;
  • - 01 (Một) đĩa DVD chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera nhà anh Nguyễn Văn H2.
  • - 01 (Một) biển số 54T4-7879, là của xe mô tô hiệu Future Neo, ông Vũ Bạt N, sinh năm: 1954, địa chỉ: Số E N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên, ông đã bán, không biết ai là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có người nhận.
  • - 01 (Một) biển số 78G1-266.59, là của xe mô tô hiệu Honda Lead, anh Đinh Khánh C, sinh năm: 1995, địa chỉ: Khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên đứng tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có người nhận.

Bản Cáo trạng số 90/CT-VKSXL ngày 05-4-2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai truy tố Trần Văn B1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Trần Văn B1 khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Cáo trạng mô tả. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn B1.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, là tính tiết tăng nặng quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Trần Văn B1 từ 1 năm 6 tháng đến 02 năm tù;

Ý kiến của bị hại (anh Nguyễn Văn H2): Yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá cái điện thoại 5.000.000 đồng và 876.000 đồng.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lâm Thị Ngọc T: Vào ngày 11-7-2023, chị điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi tìm nơi xin việc làm, không biết bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn B1 khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 11-7-2023, Trần Văn B1 đã có hành vi lén lút vào nhà của anh Nguyễn Văn H2, thuộc ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai, lấy trộm 01 cái điện thoại di động Iphone XSmax, màu vàng, trị giá 5.000.000 đồng và 876.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo lấy trộm của anh Nguyễn Văn H2 là 5.876.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Trần Văn B1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của anh Nguyễn Văn H2, nên cần đưa ra xét xử và áp dụng mức hình phạt nghiêm, nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Trị giá tài sản Trần Văn B1 trộm cắp là 5.876.000 đồng (thuộc phạm vi trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000đồng), nên bị xét xử tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cũng xem xét cho bị cáo trong khi quyết định hình phạt.

Đối với chị Lâm Thị Ngọc T, vào ngày 11-7-2023 điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi tìm nơi xin việc làm, chị không biết việc bị cáo trộm cắp tài sản, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

[5] Về dân sự:

Anh Nguyễn Văn H2 yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá cái điện thoại 5.000.000đồng và 876.000đồng, tổng cộng là 5.876.000đồng, bị cáo chấp nhận toàn bộ, là phù hợp quy định của pháp luật, nên ghi nhận.

[6] Về vật chứng:

  • - 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh-đen, mang biển số 60B6-732.39, là tài sản của bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
  • - 01 (Một) cái mũ lưỡi trai màu đen; 01 (Một) cái mũ bảo hiểm màu đen, có giá trị không đáng kể, nên tịch thu tiêu hủy;
  • - 01 (Một) đĩa DVD chứa 02 đoạn video trích xuất từ camera nhà anh Nguyễn Văn H2 là tài liệu dùng làm chứng cứ, nên lưu hồ sơ vụ án.
  • - 01 (Một) biển số 54T4-7879, là của xe mô tô hiệu Future Neo, ông Vũ Bạt N, sinh năm: 1954, địa chỉ: Số E N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên, ông đã bán, không biết ai là chủ sở hữu và 01 (Một) biển số 78G1-266.59, là của xe mô tô hiệu Honda Lead, anh Đinh Khánh C, sinh năm: 1995, địa chỉ: Khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên đứng tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có người nhận, nên tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Trần Văn B1 – 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08-02-2024.

2. Về dân sự: Áp dụng Điều 48, Bộ luật Hình sự; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bị cáo Trần Văn B1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H2 5.876.000 (Năm triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Nguyễn Văn H2 (Sau khi án có hiệu lực pháp luật), Trần Văn B1 phải chịu lãi suất quy định tại Điều 357,

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

3. Về Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150, màu xanh-đen, mang biển số 60B6-732.39;

3.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cái mũ lưỡi trai màu đen; 01 (Một) cái mũ bảo hiểm màu đen.

Tất cả đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc ngày 11-4-2024.

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X biển số xe mô tô 54T4-7879 và biển số xe mô tô 78G1-266.59, tiếp tục xác minh chủ sở hữu và giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.

Trần Văn B1 phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND. Tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND. Tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an H.Xuân Lộc;
  • - VKSND. H.Xuân Lộc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Xuân Lộc;
  • - UBND. xã Thanh Liên, H.Thanh Chương, tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; các đương sự;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Anh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger