TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 17 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Hảo và ông Phạm Công Đợi.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Phước L
sinh ngày 12-12-1993, nơi sinh thành phố C, tỉnh An Giangnơi cư trú: Tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giangnghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; không rõ tên cha, mẹ là bà Võ thị T L1 anh, chị, em có 03 người bị cáo là người thứ nhất; vợ Nguyễn Thị Hoàng C 01 người con sinh năm 2021. Tiền sự: Không; tiền án: Ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, kết án 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 13/10/2022, chấp hành xong, chưa xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024 cho đến nay (có mặt).
Bị hại:
- Ông Nguyễn Duy T1 năm 1989, nơi cư trú: Tổ 03, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang
- Ông Trần Phú Q năm 1996, nơi cư trú: Tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Khúc T2 T1sinh năm 1988, nơi cư trú: Tổ A, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Hoàng C1 năm 1985;
- Ông Lê Minh T3 năm 1975.
Các ông, bà: T3QT1Cvà T2vắng mặt phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Phước LNguyễn Duy Tvà Trần Phú Q1 thường đến tiệm chơi game ở tiệm game bắn cá “Như L2 thuộc tổ G, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giangchơi game nên quen biết nhau. Khoảng 16 giờ ngày 06/02/2024, L1 tiệm game bắn cá “Như L2 để chơi thì gặp Tvà Q2 đang chơi game ở tiệm. Lúc này, Q3 cho L01 điện thoại di động OPPO Reno 8 5G và 01 tờ giấy cầm đồ, Qkêu L2 đến tiệm cầm đồ “Toàn T4 tại số C, đường T, tổ A, khóm H, phường V, thành phố C điện thoại với số tiền 3.000.000 đồng, rồi lấy 1.000.000 đồng từ số tiền trên chuộc lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mà Q4 cầm trước đó, mang về đưa QQsẽ trả tiền công cho LLđồng ý, Lmượn xe mô tô biển số 67H3-3763 của TLhứa với T4 khi cầm điện thoại cho Q5 sẽ mang xe về trả, T5 ý giao xe cho LLđiều khiển xe đến tiệm cầm đồ “Toàn T4 gặp Khúc Thành T(chủ tiệm cầm đồ) cầm điện thoại di động OPPO Reno 8 5G với số tiền 3.000.000 đồng, nhưng L3 chuộc điện thoại di động R cho Q6 nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này để nạp vào tài khoản chơi game. Lnạp số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản rồi chơi game thua hết, Ltiếp tục nảy sinh ý định lấy xe mô tô biển số 67H3-3763 của T6 đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 08 giờ ngày 07/02/2024, L4 khiển xe mô tô của Tđến khu vực đường C thuộc khóm V, phường V, thành phố C cho người đàn ông tên C1(không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) nhà ở Campuchia với số tiền 1.500.000 đồng, L5 xài hết 250.000 đồng, nạp tiền vào tài khoản 500.000 đồng để chơi game online, còn 750.000 đồng Lgiữ lại. Khoảng 09 giờ ngày 08/02/2024, Tvà Q7 tìm và gặp L6 ở nhà của Nguyễn Thị Hoàng C2(vợ của L7 tổ C, khóm C, phường C, thành phố C lấy lại xe biển số 67H3 – 3763, tiền và điện thoại di động thì L8 đã cầm xe mô tô của Tvà tiêu xài hết 3.000.000 đồng tiền cầm điện thoại của Qnên Tvà Qđến Công an phường Vtrình báo sự việc.
Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G, Ram 8GB, màu đen.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 480, 483/KL-ĐG ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố C nhận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G, Ram 8GB, màu đen, giá trị 4.000.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Cub 82, màu xanh, biển số 67H3 – 3763, số khung: 1109809, số máy: 1109843, đã qua sử dụng, giá trị 7.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Người liên quan ông KThành T7 yêu cầu bị cáo L9 thường 3.000.000 đồng.
Trần Văn BTrần Văn VSTrương T8 HTại Cáo trạng số: 79/CT-VKSCĐ-HS ngày 19-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Võ Phước L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Võ Phước L10 nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Thay mặt Hội đồng xét xử - Thẩm phán công bố lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng vắng mặt phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Phước L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả cho Q01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G, Ram 8GB, màu đen. Áp dụng Điều 584; 585; 586 và 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo trả ông KThành T9 số tiền 3.000.000đồng.
Bị cáo Võ Phước L không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 06-02-2024 tại tiệm game bắn cá “Như L2thuộc tổ G, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An GiangLmượn xe mô tô biển số 67H3-3763 của T10 làm phương tiện di chuyển đến tiệm cầm đồ sau khi được bị hại Quí giao 01 điện thoại di động OPPO Reno 8 5G và 01 tờ giấy cầm đồ, Qnhờ Lđi cầm điện thoại trên với số tiền 3.000.000 đồng và chuộc lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mà Q4 cầm trước đó tại tiệm cầm đồ “Toàn Thịnh”, L11 điện thoại trên được 3.000.000 đồng nhưng L3 chuộc điện thoại R cho Q6 sử dụng hết vào việc nạp vào tài khoản chơi game, sau khi chơi game thua hết khoảng 08 giờ ngày 07/02/2024, L4 khiển xe mô tô của bị hại Thượng đến khu vực đường C thuộc khóm V, phường V, thành phố C cho người đàn ông tên C1(không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) nhà ở Campuchia với số tiền 1.500.000 đồng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lợi dung sự tin tưởng của người khác, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là điện thoại và xe mô tô của Qvà Ttổng trị giá 10.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo L12 phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, kết án 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 13/10/2022, chấp hành xong, chưa xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm; bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện; có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, có nhân thẩn xấu, điều này thể hiện, bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo, sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích là chiếm đoạt được tài sản. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa buộc bị cáo Võ Phước L phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T11 nhận số tiền 1.250.000 đồng của bị cáo L13 đã chuộc lại xe mô tô, Q8 nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G; Thượng và Q9 yêu cầu L9 thường. Tlyêu cầu L lại số tiền 3.000.000 đồng là có cơ sở theo quy định tại Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận;
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G, là của Quí, không liên quan đến tội phạm, xét trả lại cho Q
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự; dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Võ Phước L14 tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Võ Phước L15 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/9/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Võ phước L3 có trách nhiệm trả cho ông KThành T9 số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm trả, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng N định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Giao trả cho bị hại Quí 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8 5G, Ram 8GB, màu đen (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cvới Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Phước L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đức |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Phước Lộc, Nguyễn Duy Thượng và Trần Phú Quí do thường đến tiệm chơi game ở tiệm game bắn cá “Như Luân” thuộc tổ 07, khóm Châu Long 1, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang chơi game nên quen biết nhau. Khoảng 16 giờ ngày 06/02/2024, Lộc đến tiệm game bắn cá “Như Luân” để chơi thì gặp Thượng và Quí cũng đang chơi game ở tiệm. Lúc này, Quí đưa cho Lộc 01 điện thoại di động OPPO Reno 8 5G và 01 tờ giấy cầm đồ, Quí kêu Lộc đi đến tiệm cầm đồ “Toàn Thịnh” tại số 346, đường Tôn Đức Thắng, tổ 12, khóm Hoà Bình, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc cầm điện thoại với số tiền 3.000.000 đồng, rồi lấy 1.000.000 đồng từ số tiền trên chuộc lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme mà Quí đã cầm trước đó, mang về đưa Quí, Quí sẽ trả tiền công cho Lộc, Lộc đồng ý, Lộc mượn xe mô tô biển số 67H3-3763 của Thượng, Lộc hứa với Thượng sau khi cầm điện thoại cho Quí xong sẽ mang xe về trả, Thượng đồng ý giao xe cho Lộc. Lộc điều khiển xe đến tiệm cầm đồ “Toàn Thịnh” gặp Khúc Thành Trí (chủ tiệm cầm đồ) cầm điện thoại di động OPPO Reno 8 5G với số tiền 3.000.000 đồng, nhưng Lộc không chuộc điện thoại di động Realme cho Quí, mà nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này để nạp vào tài khoản chơi game. Lộc nạp số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản rồi chơi game thua hết, Lộc tiếp tục nảy sinh ý định lấy xe mô tô biển số 67H3-3763 của Thượng mang đi cầm để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 08 giờ ngày 07/02/2024, Lộc điều khiển xe mô tô của Thượng đến khu vực đường Cộ thuộc khóm Vĩnh Chánh 2, phường Vĩnh Ngươn, thành phố Châu Đốc cầm cho người đàn ông tên Cùi (không rõ nhân thân và địa chỉ cụ thể) nhà ở Campuchia với số tiền 1.500.000 đồng, Lộc tiêu xài hết 250.000 đồng, nạp tiền vào tài khoản 500.000 đồng để chơi game online, còn 750.000 đồng Lộc giữ lại. Khoảng 09 giờ ngày 08/02/2024, Thượng và Quí đi tìm và gặp Lộc đang ở nhà của Nguyễn Thị Hoàng Châu (vợ của Lộc) tại tổ 35, khóm Châu Long 2, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, để lấy lại xe biển số 67H3 – 3763, tiền và điện thoại di động thì Lộc nói đã cầm xe mô tô của Thượng và tiêu xài hết 3.000.000 đồng tiền cầm điện thoại của Quí, nên Thượng và Quí đến Công an phường Vĩnh Mỹ trình báo sự việc.
