Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Bắc

2. Ông Quản Giang Thao

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đào Tiến Đ - Sinh ngày 10/11/2002, tại phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đào Duy H, sinh năm 1977; con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

  2. Nguyễn Trọng K - Sinh ngày 22/6/1999, tại phường H, thị xã N, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Trọng D, sinh năm 1972; con bà: Lê Thị S (đã chết); chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đức V - sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Bà Nguyễn Thị P - sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Quang S1 - sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00h05'ngày 17/4/2024, Tổ công tác Công an thị xã N làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực tổ dân phố T, phường H, thị xã N đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Đức V, sinh năm 2002, trú tổ dân phố Q, phường H, thị xã N. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện tay phải của V đang cầm 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, loại có khóa zip, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Khai thác tại chỗ, V khai túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng nêu trên là ma túy, loại Ketamine, V đang tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong số ma túy trên (kí hiệu M1) và thu giữ, niêm phong 01 điện thoại di động (kí hiệu M2) để phục vụ công tác điều tra.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/4/2024, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Nguyễn Đức V sử dụng điện thoại lắp sim 0961.118.xxx gọi đến số điện thoại 0343.525.xxx của Nguyễn Trọng K, sinh năm 1999, trú tổ dân phố N, phường H, thị xã N để hỏi mua 01 chỉ ma túy, loại Ketamine, thì K đồng ý bán với giá 2.600.000 đồng và bảo sẽ liên lạc lại sau. Sau đó, K sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Kiệt” gọi điện qua ứng dụng M đến tài khoản “Đào Tiến Đ” của Đào Tiến Đ, sinh năm 2002, trú tổ dân phố T, phường H để hỏi mua 01 chỉ ma túy, loại Ketamine, thì Đ đồng ý bán với giá 2.500.000 đồng, đồng thời nhắn tin số tài khoản ngân hàng của Đ cho K và yêu cầu K chuyển tiền trước. Sau khi nhận được tin nhắn yêu cầu chuyển tiền của Đ, K nhắn tin số tài khoản ngân hàng của K cho V và bảo V chuyển trước số tiền 2.500.000 đồng, còn lại 100.000 đồng thì đưa sau. Do không có tiền trong tài khoản nên V đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968, ở tổ dân phố T, phường H, thị xã N, V đưa 2.500.000 đồng cho bà P, nhờ bà P chuyển tiền đến số tài khoản của K, bà P sử dụng tài khoản cá nhân số [...] ngân hàng M3 chuyển 2.500.000 đồng đến tài khoản 0343525883 ngân hàng MB của K. Sau khi nhận được tiền, K chuyển số tiền 2.500.000 đồng từ tài khoản Kiệt đến số tài khoản 6286866628668 ngân hàng MB của Đ. Nhận được tiền, Đ gọi cho K hẹn sang nhà lấy ma túy, Đ cầm túi ma túy đi ra đường thì gặp K đi đến nên đưa túi ma túy cho K, K cầm túi ma túy đi về nhà. Khi về đến nhà, K gọi điện cho V, bảo V đến nhà K lấy ma túy, V đi đến cổng nhà K đưa cho K một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, thì được K đưa cho 01 túi ma túy Ketamine. Sau khi mua được ma túy, V cầm ở tay đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến tổ dân phố T, phường H, thị xã N thì V bị Tổ công tác Công an thị xã N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang như đã nêu ở trên.

Đến 09h00' ngày 17/4/2024, Nguyễn Trọng K đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Đức V vào đêm ngày 16/4/2024 và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 11 màu đen, lắp sim số 0343.525.883 và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (BL 69). Đến 12h00' cùng ngày, Đào Tiến Đ cũng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Trọng K vào đêm ngày 16/4/2024 và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, lắp sim số 0983.307.145 và 02 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, loại có khóa zip, bên trong đều chứa các chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu Đ2), Đ khai nhận chất tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon trên là ma túy, loại Ketamine, Đ tàng trữ với mục đích để bán (BL 67).

Tại bản kết luận giám định số 1627/KL-KTHS, ngày 23/4/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  • + Chất tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,379 gam, loại Ketamine.
  • + Chất tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu Đ2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,037 gam, loại Ketamine.

Tại bản kết luận giám định số 1692/KL-KTHS, ngày 25/4/2024, Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (thu giữ của Nguyễn Trọng K) là tiền thật.

Tại Bản cáo trạng số 110/CT-VKSNS ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đào Tiến Đ và Nguyễn Trọng K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt: Đào Tiến Đ từ 27 tháng đến 30 tháng tù; Nguyễn Trọng K từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Tịch thu tiêu hủy 2,191g ma túy, loại loại Ketamine (là mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ vỏ bao niêm phong. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro màu đen, số Imei 1: 868202053728765/78, số Imei 2: 868202053728773/78, bên trong lắp sim có dãy số 8984048000381599830 tương ứng với số điện thoại 0343.525.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số I: 353896106301710, số Imei 2: 353896106061504, máy đã qua sử dụng, bị nứt, vỡ mặt sau, bên trong lắp sim điện thoại có ghi số 8984048000330104741 tương ứng với số điện thoại 0983.307.xxx và 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; Truy thu 2.500.000đ của bị cáo Đ để nộp ngân sách nhà nước. Trả lại cho anh V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, có số Imei: 353093104841836, số I: 353093104932056, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000917286359 tương ứng số điện thoại 0961.118.xxx. Hai bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, hai bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không tranh luận lại quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự..

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, hai bị cáo khai nhận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên đêm ngày 16/4/2024, tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Đào Tiến Đ có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Trọng K 01 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng là 0,379 gam Ketamine với giá 2.500.000 đồng. K sau đó đã đem túi ma túy này bán lại cho Nguyễn Đức V, sinh năm 2002, trú tổ dân phố Q, phường H, thị xã N với giá 2.600.000 đồng ngay trước cổng nhà mình ở tổ dân phố N, phường H, thị xã N. Ngoài ra, Đ còn tàng trữ trái phép nhằm mục đích để bán 02 túi ma túy Ketamine có tổng khối lượng là 2,039 gam Ketamine. Tổng khối lượng ma túy Đ bán và tàng trữ để bán được xác định là 2,418 gam Ketamine.

Lời khai nhận của hai bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai người làm chứng. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đào Tiến Đ và Nguyễn Trọng K đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về nguồn gốc ma túy, Đào Tiến Đ khai nhận vào khoảng đầu tháng 4/2024, Đ mua của một người đàn ông ở Hà Nội qua tài khoản Telegram “Tếu Táo”, chuyển khoản qua số tài khoản 6169696699 ngân hàng T1 mang tên “Nguyen Duy M1” 05 gói ma túy, loại Ketamine với giá 5.000.000 đồng và được người này gửi qua xe khách. Khi nhận được ma túy, Đ đã sử dụng hết 02 gói, 01 gói bán cho K, 02 gói còn lại đã giao nộp cho Cơ quan điều tra khi đầu thú. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu số tài khoản ngân hàng nêu trên xác định thông tin chủ tài khoản là Nguyễn Duy M2, sinh năm 1996, trú tại số C H, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập M2 đến làm việc nhưng hiện tại M2 không có mặt địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được về nội dung này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Đối với Nguyễn Đức V có hành vi tàng trữ 0,379 gam, loại Ketamine với mục đích sử dụng. Bản thân V chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy nên hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của V chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với V theo quy định.

Đối với bà Nguyễn Thị P có hành vi chuyển hộ V số tiền 2.500.000 đồng cho Nguyễn Trọng K, tuy nhiên chuyển tiền hộ V, bà P không biết nội dung, mục đích V chuyển tiền nên hành vi của bà P không phạm tội.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng:

Hiện nay trên địa bàn thị xã N nói riêng, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của các bị cáo làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho mỗi bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly cả hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo và đầu thú nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.

[6] Xét về vật chứng:

  • - Đối với 2,191g ma túy, loại loại Ketamine (là mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ vỏ bao niêm phong; hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94 Ngày 19/6/2024, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và những vật không có giá trị sử dụng nên cần căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro màu đen, số Imei 1: 868202053728765/78, số Imei 2: 868202053728773/78, bên trong lắp sim có dãy số 8984048000381599830 tương ứng với số điện thoại 0343.525.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số I: 353896106301710, số Imei 2: 353896106061504, máy đã qua sử dụng, bị nứt, vỡ mặt sau, bên trong lắp sim điện thoại có ghi số 8984048000330104741 tương ứng với số điện thoại 0983.307.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94 Ngày 19/6/2024. 02 chiếc điện thoại này được hai bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, có số Imei: 353093104841836, số I: 353093104932056, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000917286359 tương ứng số điện thoại 0961.118.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94 Ngày 19/6/2024. Chiếc điện thoại này không phải là vật chứng của vụ án, nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại cho anh V.
  • - Đối với số tiền 100.000đ mà bị cáo K đã giao nộp cho cơ quan điều tra, hiện đang được ký gửi tại kho bạc N theo biên bản giao nhận tài sản số 12/2024/ BBBG-KBNS, ngày 27/5/2024. Đây là số tiền bị cáo K có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 2.500.000đ mà bị cáo Đ đã bán ma túy cho bị cáo K. Đây là số tiền bị cáo Đ có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS Truy thu 2.500.000đ của bị cáo Đ để nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Xét về án phí: Hai bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Đào Tiến ĐNguyễn Trọng K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  3. 3 Về hình phạt:
    • - Xử phạt Đào Tiến Đ 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
    • - Xử phạt Nguyễn Trọng K 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.
  4. 4. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy 2,191g ma túy, loại loại Ketamine (là mẫu vật còn lại sau giám định) và toàn bộ vỏ bao niêm phong; hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94 Ngày 19/6/2024,
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro màu đen, số Imei 1: 868202053728765/78, số Imei 2: 868202053728773/78, bên trong lắp sim có dãy số 8984048000381599830 tương ứng với số điện thoại 0343.525.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số I: 353896106301710, số Imei 2: 353896106061504, máy đã qua sử dụng, bị nứt, vỡ mặt sau, bên trong lắp sim điện thoại có ghi số 8984048000330104741 tương ứng với số điện thoại 0983.307.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 100.000đ, hiện đang được ký gửi tại kho bạc Nghi Sơn theo biên bản giao nhận tài sản số 12/2024/ BBBG-KBNS, ngày 27/5/2024.
    • - Truy thu 2.500.000đ của Đào Tiến Đ để nộp ngân sách Nhà nước.
    • - Trả lại cho Nguyễn Đức V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen, có số Imei: 353093104841836, số I: 353093104932056, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000917286359 tương ứng số điện thoại 0961.118.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK 2024/94
  5. 5. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt nười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - CQTHA HS Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Văn Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 16/4/2024 Đào Tiến Đ đã bán trái phép cho Nguyễn trọng K 01 túi ma túy loại Kentamine có tổng khối lwowngj0,379 gam với giá 2.500.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger