|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST
Ngày 17-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lam
Ông Đàm Văn Sự
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa:
Ông Đàm Đình Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 07 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Chảo Vần L; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 27/4/1977; tại: K, B, Cao Bằng; Nơi cư trú: Mác N, K, B, Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chảo Trùng Tròi (đã chết); Con bà: Phủng Mùi P, sinh năm 1937; Vợ: Chảo Mùi P1, sinh năm 1975 cùng trồng trọt và trú tại: Xóm M, xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2007; Có 05 anh chị em, bị can là con út; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Chảo A N; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 14/06/2005; tại: K, B, Cao Bằng; Nơi cư trú: Mác N, K, B, Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chảo Vần L, sinh năm 1977; Con bà: Chảo Mùi P1, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không.
- Họ và tên: Chảo A T; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 12/08/2000; tại: K, B, Cao Bằng; Nơi cư trú: Mác N, K, B, Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chảo Vần L, sinh năm 1977; Con bà: Chảo Mùi P1, sinh năm 1975; Vợ, con: Vợ: Chảo Mùi D (chưa đăng ký kết hôn) cùng trồng trọt và trú tại xóm M, xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Có 03 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2022; Có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 3; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/3/2024 đến ngày 15/3/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay đang tại ngoại tại nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho cả 03 bị cáo: Ông Triệu Bằng G - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; Có mặt tại phiên tòa.
-Người làm chứng: Ông Lục Văn V, sinh năm 1977; Trú tại: Tổ B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch tiếng Dao: Ông Triệu Chiều G1 - Cán bộ Phòng an ninh nội địa Công an tỉnh C; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02 giờ 20 phút ngày 11/3/2024 Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại tổ D, thị trấn B, huyện B phát hiện 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ( gồm Tiêu Hạo H, sinh năm 2006 trú tại tỉnh Trùng Khánh, Trung Quốc; Vi Thiếu L1 sinh năm 2003 trú tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc). Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc, yêu, cầu 02 người Trung Quốc về trụ sở làm rõ.
Mở rộng điều tra xác định được như sau: Khoảng 18 giờ ngày 10/3/2024 Chảo Vần L (sinh năm 1977 trú tại xóm M, xã K, huyện B) đến khu vực mốc 591 địa phận xóm M, xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng để làm rẫy thì gặp T1 cùng 02 người Trung Quốc khác (01 nam; 01 nữ) đang đi bộ sang địa phận Việt Nam; T1 đặt vấn đề thuê L chở 02 người Trung Quốc đến thị trấn B, huyện B để tiếp tục lên xe ô tô để đi sâu vào nội địa Việt Nam với tiền công là 600 CNY (Nhân dân tệ), Liàng nhận lời. Do đường xa và khó đi nên L về nhà bảo Chảo A T, Chảo A N (con của L) đi chở 02 người đến thị trấn B với tiền công 300 CNY, T và N đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày T, N mỗi người điều khiển 01 xe mô tô đến xóm M, xã K chở 02 người đến thị trấn B, trên đường đi người Trung Quốc yêu cầu T tìm chỗ nghỉ trọ tại thị trấn B để chờ xe ô tô đến đón, T gọi điện thoại cho Lục Văn V (sinh năm 1977 trú tại tổ B, thị trấn B) đặt vấn đề cho 02 người nghỉ nhờ tại nhà V với số tiền 500.000 đồng, V đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi chở 02 người đến thị trấn B, T cùng N cho 02 người Trung Quốc vào nhà của V và đi về; V cho 02 người Trung Quốc ở tại tầng 1, còn V lên tầng 2 ngủ. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/3/2024 V mở cửa cho 02 người Trung Quốc ra ngoài, khi 02 người Trung Quốc đang chờ xe ô tô đến đón thì bị lực lượng chức năng phát hiện, lập biên bản vụ việc.
Hành vi của các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C đề nghị truy tố về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản Cáo trạng số: 56/CT-VKSCB-P1 ngày 12/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là đúng với hành vi đã thực hiện.
Kết thúc việc hỏi tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chảo Vần L, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chảo A N, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chảo A T, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại của bị cáo Chảo Vần L và điện thoại của bị cáo Chảo A T vì liên quan đến hành vi phạm tội.
Xử tịch thu để hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Chảo A T 01 xe mô tô biển kiểm soát 20H7-9019 nhãn hiệu HONDA.
Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho cả 03 bị cáo, ông Triệu Bằng G trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với cáo trạng truy tố các bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất mức độ, nguyên nhân điều kiện hoàn cảnh phạm tội: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số ít người, sinh ra và lớn lên ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; các bị cáo đều là người trong một gia đình; trình độ văn hóa thấp, bị cáo L mù chữ, các bị cáo N, T học hết lớp 5, do vậy hiểu biết pháp luật hạn chế; các bị cáo Chảo A N và Chảo A T thực hiện hành vi phạm tội khi tuổi còn trẻ, bị cáo N chưa có vợ con. Nhân thân cả 03 bị cáo đều tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội vì hoàn cảnh gia đình khó khăn gia đình thuộc hộ nghèo, muốn được hưởng tiền công để trang trải cuộc sống gia đình nên đã phạm tội. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A N mức án 12 tháng tù; đối với bị cáo Chảo A T áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm. Về hình phạt bổ sung, không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Nhất trí như Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo không có lời bào chữa bổ sung, không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A N đề nghị cho hưởng án treo; Bị cáo Chảo A T đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với Biên bản sự việc do Công an huyện B, tỉnh Cao Bằng lập hồi 02 giờ, ngày 11/3/2024 đối với 02 đối tượng nhập cảnh trái phép; Biên bản làm việc về việc nhận diện đối với 02 người Trung Quốc ở tại nhà của Lục Văn V; Lời khai của 02 công dân nhập cảnh trái phép; Lời khai và trích xuất điện thoại đối với Lục Văn V; Trích xuất dữ liệu điện tử từ chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Chảo Vần L thể hiện nội dung liên quan đến hành vi các bị cáo thực hiện; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 10/3/2024 Chảo Vần L được một người Trung Quốc thuê chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến thị trấn B, huyện B với tiền công là 600 CNY; sau đó Liàng thuê Chảo A T, Chảo A N đi chở người với tiền công 300 CNY. Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2024 Chảo A N, Chảo A T mỗi người điều khiển 01 xe mô tô đến xóm M, xã K, huyện B chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến thị trấn B, huyện B rồi đi về. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/3/2024 khi 02 người Trung Quốc đang chờ xe ô tô đến đón để tiếp tục sang Campuchia làm thuê thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Do người Trung Quốc nhập cảnh trái phép bị phát hiện nên L, T, N chưa nhận được tiền công.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc đưa đón người nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì mục đích hám lợi mà các bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, mục đích là để đưa người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào sâu nội địa Việt Nam. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Việc bị cáo nhận đưa, đón công dân Trung Quốc nhập cảnh trái phép không có sự kiểm soát của các cơ quan chức năng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm cũng như làm phát sinh nhiều vấn đề an ninh trật tự phức tạp và làm ảnh hưởng đến sự chỉ đạo của các ngành các cấp về ngăn chặn, đấu tranh đối với các hành vi xuất, nhập cảnh qua biên giới.
Việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét hành vi các bị cáo phạm tội thuộc đồng phạm giản đơn, bị cáo L là người khởi xướng trực tiếp liên hệ việc đưa đón người và rủ rê các bị cáo Chảo A T, Chảo A N thực hiện hành vi phạm tội; nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Chảo A T, Chảo A N.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên cả 03 bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N hành vi phạm vào tội nghiêm trọng; cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A N mới đủ sức răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đối với bị cáo Chảo A T thực hiện hành vi phạm tội khi tuổi còn trẻ, có 03 con còn nhỏ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán nhân dân tối cao ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử nhận định: không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, có thể xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T hưởng án treo theo như mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng là phù hợp, như vậy cũng đủ sức răn đe để các bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích; việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ cần xem xét chấp nhận.
Xét ý kiến của người bào chữa đề nghị xử các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A N 12 tháng tù, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc xem xét khi quyết định hình phạt. Ý kiến người bào chữa đối với bị cáo Chảo A T xử mức án treo là có căn cứ xem xét chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, chưa được hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên không cần thiết áp dụng một trong các hình phạt bổ sung trên đối với các bị cáo.
[5] Việc xử lý vật chứng: Quan điểm xử lý vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với người thuê L tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ.
Đối với Lục Văn V quá trình điều tra xác định được: Khi cho người Trung Quốc ở tại nhà của mình, V không biết là người nhập cảnh trái phép nên không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí: Các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí và tại phiên tòa có đơn xin miễn án phí. Xét thấy yêu cầu của các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận miễn án phí cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T, Chảo A N phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chảo Vần L 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 11/3/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chảo A N 13 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 11/3/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chảo A T 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 tháng, được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/7/2024. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện B, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước:
- - Đối với bị cáo Chào V1 Liàng: 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “01 (một) điện thoại di động nhân hiệu Masstel X1 của bị cáo Chảo Vần L", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan An nình điều tra Công an tỉnh C.
- - Đối với bị cáo Chảo A T:
- + 01 (một) xe mô tô: không gắn biển kiểm soát, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu: HONDA, số loại: KWY, màu sơn: đỏ đen bạc, số máy: HC12E0692461, số khung: RLHHC12259Y073829, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2009 (ngày đăng ký: 15/6/2009), xe cũ đã qua sử dụng, không có nắp nhựa đèn hậu phần đuôi xe, vỏ xe có nhiều vết xước bong tróc sơn đã cũ, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 (một) biển kiểm soát 20H7-9019.
- + 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y17 đã qua sử dụng của bị cáo Chảo A T", mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 04 hình dấu tròn mực đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C.
Xác nhận toàn bộ vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 121 ngày 24/6/2024.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Chảo Vần L, Chảo A T và Chảo A N được miễn án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Biên Hòa |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 10/3/2024 Chảo Vần L được một người Trung Quốc thuê chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến thị trấn B, huyện B với tiền công là 600 CNY; sau đó Liàng thuê Chảo A T, Chảo A N đi chở người với tiền công 300 CNY. Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2024 Chảo A N, Chảo A T mỗi người điều khiển 01 xe mô tô đến xóm M, xã K, huyện B chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đến thị trấn B, huyện B rồi đi về. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/3/2024 khi 02 người Trung Quốc đang chờ xe ô tô đến đón để tiếp tục sang Campuchia làm thuê thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Do người Trung Quốc nhập cảnh trái phép bị phát hiện nên L, T, N chưa nhận được tiền công.
