|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/DS-ST
Ngày 17 tháng 6 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kịch
Ông Kiêm Hươl
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung, Thư ký Tòa nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thụ lý số 503/2023/TLST-DS, ngày 28/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-DS, ngày 13/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QÐST-DS, ngày 30/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần A, địa chỉ: Tầng A, 2, 3 Tòa nhà G, C H , phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào Khánh L, Chuyên viên Xử lý nợ-Ban Xử lý nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần A, địa chỉ liên hệ: A P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo văn bản ủy quyền ngày 07/12/2023
Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1991, địa chỉ: ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 07/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Đào Khánh L trình bày:
Trước đây, Ngân hàng Thương mại cổ phần A (sau đây gọi là Ngân hàng) có thỏa thuận với ông Trần Văn H ký kết hợp đồng cho vay số 0169/19/TD/XIX ngày 21/10/2019 với số tiền cho vay: 540.000.000 đồng; Thời hạn vay: 60 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân; Mục đích sử dụng vốn: Vay mua xe ô tô (Youcar); Lãi suất cho vay 7,5%/năm trong 06 tháng đầu, 11%/năm trong 06 tháng tiếp theo của khoản vay và được thay đổi theo quy định của ngân hàng; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, Ngân hàng ký kết với ông Trần Văn H Hợp đồng thế chấp tài sản số 0169/19/TC/XIX ngày 21/10/2019, tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu FOTON, số loại THACO, Biển số đăng ký: 83C-078.58, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an tỉnh S cấp cho ông Trần Văn H ngày 14/10/2019 và đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng ngày 21/10/2019
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Trần Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản của các hợp đồng, tính đến ngày xét xử (ngày 17/6/2024), ông H còn nợ Ngân hàng vốn gốc 323.999.998 đồng, tiền lãi trong hạn 65.224.561 đồng và lãi quá hạn 73.528.366 đồng, cộng chung là 462.752.925 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP A yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn H phải trả số tiền vốn gốc và lãi còn nợ với tổng số tiền là 462.752.925 đồng; đồng thời tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ; trường hợp ông H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì có biện pháp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Đối với bị đơn là ông Trần Văn H, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông H nhưng ông H không có ý kiến trả lời, cũng không đến Tòa án để cung cấp lời khai và tham gia các phiên họp, hòa giải.
Đối với tài sản thế chấp là xe ô tô, đại diện phía ngân hàng có đề nghị không thẩm định tài sản bảo đảm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Ông Trần Văn H là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, xét thấy hợp đồng tín dụng về các điều khoản thỏa thuận giữa Ngân hàng với ông H đều được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là ngân hàng với bên vay là ông H; các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện với nhu cầu lợi nhuận của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là ngân hàng đã giải ngân, bên vay là ông H đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng, như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nhưng ông H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận; do vậy việc khởi kiện của ngân hàng yêu cầu buộc ông H thanh toán nợ còn lại của hợp đồng cho vay với tổng số tiền là 462.752.925 đồng (gồm nợ gốc 323.999.998 đồng và tiền lãi trong hạn 65.224.561 đồng và lãi quá hạn 73.528.366 đồng tính đến ngày xét xử) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông H trả hết nợ, là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, xét thấy Hợp đồng thế chấp tài sản số 0169/19/TC/XIX lập ngày 21/10/2019, để bảo đảm cho khoản vay của ông H đối với ngân hàng, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm, phù hợp với quy định của pháp luật, với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu FOTON, số loại THACO, Biển số đăng ký: 83C-078.58, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an tỉnh S cấp cho ông Trần Văn H ngày 14/10/2019. Do đó, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng trong trường hợp ông H không trả nợ hoặc trả không đầy đủ là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận; mặt khác, việc xử lý tài sản bảo đảm nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án; nếu tài sản bảo đảm không còn hoặc giá trị thanh toán không đủ, thì vẫn có thể xử lý bằng tài sản khác.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 280, 317, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 90, 91, 94 và 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ các Điều 7, 8 và 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
- Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Trần Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A đối với khoản vay của hợp đồng cho vay ngày 21/10/2019 còn nợ với tổng số tiền là 462.752.925 (bốn trăm sáu mươi hai triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn chín trăm hai mươi lăm) đồng (trong đó nợ gốc 323.999.998 đồng, nợ lãi trong hạn 65.224.561 đồng và lãi quá hạn 73.528.366 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng Thương mại cổ phần A được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi bán đấu giá tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn H để thi hành án trong trường hợp ông H không tự nguyện thi hành. Tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải có mui, nhãn hiệu FOTON, số loại THACO, biển kiểm soát số 83C-078.58, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C Công an tỉnh S cấp cho ông Trần Văn H ngày 14/10/2019.
- Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 22.510.117 (hai mươi hai triệu năm trăm mười nghìn một trăm mười bảy) đồng; Ngân hàng Thương mại cổ phần A không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.600.000 (mười triệu sáu trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001087 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 99/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 99/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A yêu cầu ông H trả nợ hợp đồng tín dụng
