Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 16-8-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Tuyết

Ông Tô Tấn Chương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Tư- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Mạc Văn T, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1987 tại: Hải phòng; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn F, xã H, huyện T, Thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mạc Văn T1; con bà: Hoàng Thị N; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 31/8/2021 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 (mười tám) tháng, đến ngày 24/9/2022 chấp hành xong hình phạt; Nhân thân: Ngày 26/4/2006 bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng xử phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, đến ngày 05/4/2009 chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2024 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Hồ Thị Xuân T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Võ Đình P, sinh năm 1975; Nơi cư trú: 3 L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1976; Nơi cư trú: 17/3 khu phố C, Lê Thị N1, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 02/3/2023, Mạc Văn T đi lang thang khu vực cầu vượt C trên đường H hướng từ Quận F về Quận E, khi đến giao lộ H - Hà Tôn Q thì T thấy bà Hồ Thị Xuân T2 điều khiển xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00 say xỉn và bị ngã xe nên T tiến đến đỡ xe mô tô và bà T2 đứng dậy. Sau khi đứng dậy, bà T2 cám ơn và nói chuyện với T, thấy T2 đang trong tình trạng say xỉn, không nhận biết được xung quanh, bản thân thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 67H1-399.00. T nói dối với bà T2, T là nhân viên bãi giữ xe Trường tiểu học H, địa chỉ B Hồ N, Phường A, Quận E. Khi nghe T nói là nhân viên của bãi xe Trường tiểu học H thì bà T2 rủ T đi nhậu, T đồng ý. Do T2 đang trong tình trạng say xỉn nên T đề nghị bà T2 giao xe mô tô để T điều khiển đi tìm quán nhậu. Trên đường di chuyển đi tìm quán nhậu thì T2 yêu cầu quay lại bãi giữ xe Trường tiểu học H. Khi đến cổng bãi giữ xe Trường tiểu học H thì T nói bà T2 bước xuống xe để T điều khiển xe xuống dốc vào bãi gửi xe thì bà T2 làm theo. Sau đó, T điều khiển xe mô tô trên vào bãi giữ xe nhưng không gửi xe mà quay lại và chạy ngược lên dốc của bãi xe rồi rẽ trái vào đường H, tiếp đó rẽ trái vào T để tẩu thoát. Do không thấy T quay lại nên bà Hồ Thị Xuân T2 đến Công an P1, Quận E trình báo sự việc sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

Sau khi chiếm đoạt tài sản, tối ngày 02/3/2023 khi đang điều khiển xe trên đường A, Phường A, Quận F, T thấy tiệm "Cầm đồ 367", địa chỉ C A, Phường A, Quận F nên đã đi vào để cầm cố chiếc xe. Khi mở cốp xe, T thấy trong cốp có số 4.000.000 đồng và khoảng 15 tờ tiền nước ngoài cùng một số giấy tờ cá nhân, thẻ ngân hàng, giấy đăng ký xe mô tô biển số 67H1-399.00; T lấy giấy đăng ký xe mô tô ra đưa cho nhân viên tiệm cầm đồ để cầm xe trên được 3.000.000 đồng.

Ngày 08/3/2023, T gặp Nguyễn Thành C, qua nói chuyện C được biết T có xe mô tô cần bán, C đồng ý mua với giá 4.500.000 đồng. Sau đó, C cùng T đi đến tiệm "Cầm đồ 367” để chuộc xe. Tâm giao xe mô tô cùng giấy đăng ký xe lại cho C rồi T đón xe khách từ bến xe A đi đến cửa khẩu M rồi tiếp tục thuê xe ôm đi qua biên giới Campuchia vào sòng bài chơi. Tại sòng bài Campuchia, T đã nhờ người trong sòng bài đổi số tiền nước ngoài lấy được trong cốp xe của T2 được số tiền 87.178.000 đồng và đánh bạc đến khi thua hết tiền thì T đón xe ôm về lại Việt Nam sau đó bị phát hiện và bắt giữ.

Về vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00 số khung: RP8M89130GV110349, số máy: M891M5011346; số tiền 4.000.000 đồng; 1.200 đô la Mỹ (USD) và 2.400 Euro (EUR); 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận việc T chiếm đoạt tài sản tại bãi xe trường tiểu học H.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Xuân T2 đã nhận lại chiếc xe mô tô và không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tiền bị chiếm đoạt. Ông Nguyễn Thành C và Võ Đình P không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tiền đã dùng để mua xe mô tô biển số 67H1-399.00.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 60% tại thời điểm định giá tháng 3 năm 2023 có giá 5.000.000 đồng/chiếc (năm triệu đồng); 1.200 đô la Mỹ trị giá 28.206.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm lẻ sáu nghìn đồng); 2.400 Euro trị giá 58.972.800 đồng (năm mươi tám triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm đồng). Tổng cộng 92.178.800 đồng (chín mươi hai triệu một trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm đồng).

Bản cáo trạng số: 104/CT-VKSQ5 ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mạc Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mạc Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Mạc Văn T với mức án từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù; về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Xuân T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Ông Nguyễn Thành C và ông Võ Đình P không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tiền đã dùng để mua xe mô tô biển số 67H1-399.00 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Mạc Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mạc Văn T đã có hành vi gian dối để bà Hồ Thị Xuân T2 tin tưởng giao cho bị cáo chiếc xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00, trong cốp xe có số tiền 4.000.000 đồng, 1.200 đô la Mỹ và 2.400 Euro nhằm chiếm đoạt số tài sản trên sử dụng vào mục đích cá nhân. Theo bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00 có giá 5.000.000 đồng, số tiền 1.200 đô la Mỹ trị giá 28.206.000 đồng, số tiền 2.400 Euro trị giá 58.972.800 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 96.178.800 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Mạc Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vì lợi ích cá nhân mà đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử về hành vi “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” và bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không biết sửa đổi bản thân, cải tạo thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[8] Đối với ông Nguyễn Thành C và ông Võ Đình P là người mua và ông Bùi Văn T3 là người nhận cầm cố xe mô tô Piaggio Liberty, biển số 67H1-399.00 của T, do không biết tài sản trên là do bị cáo T phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý đối với các ông nêu trên là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi vượt biên giới sang Campuchia để đánh bạc của Mạc Văn T, do không có tài liệu, chứng cứ gì xác định được hành vi nêu trên của bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý đối với bị cáo T.

[9] Về xử lý vật chứng:

Xét 01 (một) xe mô tô hiệu Piaggio Liberty, màu đỏ, biển số 67H1-399.00 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng; 1.200 đô la Mỹ (USD) và 2.400 Euro (EUR) bị cáo đã tiêu xài hết, không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận việc T chiếm đoạt tài sản tại bãi xe Trường tiểu học H, hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lực theo hồ sơ vụ án.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Hồ Thị Xuân T2 đã nhận lại chiếc xe mô tô và không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tiền bị chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử kho6ngxem xét giải quyết.

Ông Nguyễn Thành C và Võ Đình P không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với số tiền mà các ông đã dùng để mua xe mô tô biển số 67H1-399.00 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Mạc Văn T 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 3 năm 2024.

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận việc T chiếm đoạt tài sản tại bãi xe Trường tiểu học H (hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06- Công an TPHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mạc Văn T-Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger