TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST
Ngày: 10-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha, ông Nguyễn Văn Được
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nông Quang Chung - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 vá quyết định hoãn phiên tòa số 15 ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn T, sinh năm: 1996, tại Kon Tum; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: Không, Tiền sự: 01 – Ngày 15/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, ngày 30/5/2023 chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Trần Văn T2, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bùi Hạnh T3, sinh năm 1989. Địa chỉ: B Nguyễn Thị S, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
- - Trần Hữu T4, sinh năm 1977. Địa chỉ: B Nguyễn Thị S, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
- - Trần Thị Hoài T5, sinh năm 2001. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/4/2022, Đỗ Văn T cùng với bạn gái Nguyên Thị Ngọc T6 đên phòng trọ của anh Trần Văn T2 tại ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước để chơi. Trong lúc ngồi chơi, T hỏi mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 38X1-306.98 của T2 để chở T6 ra bến xe "Thành Công" thuộc phường T, thành phố Đ để T6 đón xe về nhà thì anh T2 đồng ý. Sau đó, T điêu khiên xe mô tô biển số 38X1-306.98 chở T6 đến bến xe "Thành Công", nhưng do chưa có chuyến xe về thành phố Hồ Chí Minh nên T điều khiển xe mô tô chở T6 về nhà tại phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Đên khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, anh T2 gọi điện thoại kêu T mang xe về trả thì T nói "để gửi xe mô tô về bằng xe khách" nên anh T2 nói "Mượn được thì trả được, gửi xe về cước phí bao nhiêu thì anh trả" thì T cúp điện thoại. Lúc này, do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định mang xe mô tô biển số 38X1-306.98 của anh T2 đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, T điều khiển xe mô tô 38X1-306.98 đến tiệm cầm đồ "Thành Công" do anh Bùi Hạnh T3 làm quản lý tại địa chỉ B69/14 N, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh cầm xe mô tô với số tiền 5.500.000 đông (Năm triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi cầm cố xe mô tô xong, T3 lấy tiền và sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân, không về địa phương mà sống lang thang nhiêu nơi không ổn định. Đên ngày 26/4/2022, anh T2 phát hiện xe mô tô biển số 38X1-306.98 cầm cố cho anh Bùi Hạnh T3 tại tiệm cầm đồ "Thành Công" do anh Bùi Hạnh T3 quản lý nên đã đến Công an xã T, thành phô Đông Xoài trình báo sự việc.
Tại kết luận định giá tài sản số 48/KLĐG ngày 27/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 xe mô tô biển số 38X1-306.98 trị giá 7.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng;
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Văn T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; vật chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 16/4/2022 sau khi mượn được xe mô tô biển số 38X1-306.98 do anh Trần Văn T2 quản lý, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo đã mang xe đi cầm cho anh Bùi Hạnh T3 với giá 5.500.000 đồng để tiêu xài. Tài sản chiếm đoạt có giá trị 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hành vi Đỗ Văn T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
[3] Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, bản thân bị cáo biết rõ những việc mình làm là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi cho bản thân, muốn có tiền một cách nhanh chóng, sau khi mượn được xe bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, tự ý mang đi cầm cố chiếc xe 38X1-306.98 để lấy tiền tiêu xài. Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất lòng tin giữa con người với nhau. Vì vậy, cần xử phạt một mức án tương xứng với hậu quả bị cáo đã gây ra.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện ra đầu thú, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[6] Đối với Nguyễn Thị Ngọc T7 là người đi cùng Đỗ Văn T đến thành phố Hồ Chí Minh, chị T7 không biết việc T chiếm đoạt xe của anh Trần Văn T2 nên không đặt vấn đề xử lý.
Đối với Bùi Hạnh T3 là người nhận cầm cố xe 38X1-306.98, ông T3 nhận cầm cố xe nhưng không có sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản, hành vi của ông T3 vi phạm quy định tại Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, tuy nhiên đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không đề cập xử lý.
[7] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:
Người bị hại Trần Văn T2 đã nhận lại tài sản là xe 38X1-306.98, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt vấn đề xử lý.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Án phí: Áp dụng Điều 22, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoàng Long |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
