Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 99/2024/HS-ST
Ngày 09-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Thiện

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Giang T, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1983 tại Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: Số B phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T1 (đã chết) và bà Kiều Thị L; có chồng là Phạm Thuần V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 07/02/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Triệu L1; địa chỉ: L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Văn L2; địa chỉ: TDP số A phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Thành C; địa chỉ: Số A đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị T2; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  5. Chị Đỗ Thị H; địa chỉ: Số A đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28/01/2024, Công an quận H nhận được nguồn tin có 02 đối tượng đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề tại khu vực số D đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Sau khi nhận được nguồn tin, khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày Tổ công tác Đ Công an quận H đã tiến hành rà soát tại khu vực quán nước gần số D đường P, phường Đ thì phát hiện Vũ Triệu L1, sinh 1990, trú tại: L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng và Nguyễn Văn L2, sinh 1992, trú tại: TDP số A, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng mỗi người đang cầm trên tay 01 tờ tích kê ghi số lô đề để so sánh với kết quả xổ số. Tổ công tác đã tạm giữ 01 tờ tích kê ghi số lô đề với tổng số tiền là 1.300.000 đồng của Vũ Triệu L1 và 01 tờ tích kê ghi số lô đề với tổng số tiền là 1.900.000 đồng của Nguyễn Văn L2.

Ngày 29/01/2024, Nguyễn Thị Giang T đến Công an quận H đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO lắp 01 sim điện thoại số 0936.300.xxx, số tiền 5.640.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận: T thuê nhà số D đường P, phường Đ để bán quần áo. Từ tháng 01/2024, T nhận bán số lô đề thuê cho Đỗ Thị H, sinh 1984, trú tại: Số A N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, cụ thể: H thống nhất với T là lấy kết quả xổ số M mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày để xác định việc thắng, thua. Tỷ lệ trúng số đề sẽ được gấp 90 lần số tiền đã đánh; trúng số bao được gấp 3,5 lần; số bao xiên có: xiên 2, xiên 3, xiên 4, nếu trúng sẽ được tương ứng với số tiền lần lượt là gấp: 15 lần, 48 lần, 180 lần; trúng ba càng được gấp 400 lần. H trả tiền công cho T (tiền hoa hồng) tương ứng với 7,5% trên tổng số tiền đề, 4,5% trên tổng số tiền bao, 23% trên tổng số tiền bao xiên và 40% trên tổng số tiền ba càng. Khoảng 17 giờ 30 hằng ngày, H sẽ dùng tài khoản zalo “Cô chủ nhỏ” lập nhóm và thêm tài khoản “Shop Giang T3” đăng ký bằng số điện thoại 0936.300.xxx của T3 vào nhóm để trao đổi việc mua bán số lô đề. Sau khi có kết quả xổ số Miền B và tính toán xong tiền thắng thua thì tài khoản “Cô chủ nhỏ” sẽ giải tán nhóm và các dữ liệu của nhóm sẽ tự động bị xóa hết. Hàng ngày, sau khi bán số lô đề cho khách thì T3 sẽ tổng hợp lại rồi gửi tin nhắn qua zalo cho H. Sau khi có kết quả xổ số Miền B thì T3H cùng nhau so sánh kết quả, tính toán tiền thắng thua, tiền hoa hồng. Việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản giữa tài khoản số 0936300799 mở tại Ngân hàng TMCP H1 phòng giao dịch N của Nguyễn Thị Giang T với tài khoản số 19036169634012 tại Ngân hàng TMCP K chi nhánh N của Đỗ Thị H. Sau đó, T là người chịu trách nhiệm thanh toán tiền thắng thua số lô đề với khách.

Ngày 28/01/2024, tại nhà số D đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, T đã ghi các số lô đề và bán cho khách cụ thể như sau: Bán cho Vũ Triệu L1 tổng số tiền là 1.300.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn L2 tổng số tiền là 1.900.000 đồng; bán cho Nguyễn Thành C, sinh 1990, trú tại: Số A đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng tổng số tiền là 2.450.000 đồng; bán cho Nguyễn Thị T2, sinh1970, trú tại: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng tổng số tiền là 2.000.000 đồng; bán cho khoảng 2 - 3 người khách vãng lai không quen biết tổng số tiền là 2.440.000 đồng và T tự đánh các số lô đề với H tổng số tiền là 1.440.000 đồng. Sau khi ghi các số lô đề bán cho khách và các số lô đề T tự đánh, tương ứng với tổng số tiền là 11.530.000 đồng, T đã tổng hợp lại rồi chuyển toàn bộ các số lô đề này từ tài khoản zalo “Shop Giang T3” của T3 đến nhóm tài khoản tên “Smile” được H tạo lập từ tài khoản zalo “Cô chủ nhỏ”. Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 28/01/2024, tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau: Nguyễn Văn L2 đánh bạc là 1.900.000 đồng. Nguyễn Thị T2 đánh bạc là 2.000.000 đồng. Vũ Triệu L1 đánh bạc là 2.200.000 đồng (1.300.000 đồng tiền mua số lô đề + 900.000 đồng tiền trúng thưởng). Nguyễn Thành C đánh bạc là 4.600.000 đồng (2.450.000 đồng tiền mua số lô đề + 2.150.000 đồng tiền trúng thưởng). Khoảng 2-3 người khách vãng lai không quen biết đánh bạc là 4.390.000 đồng (2.440.000 đồng tiền mua số lô đề + 1.950.000 đồng tiền trúng thưởng). Nguyễn Thị Giang T đánh bạc là 16.980.000 đồng (10.090.000 đồng tiền bán số lô đề + 1.440.000 đồng Thanh tự đánh với H + 5.450.000 đồng tiền trúng thưởng). Ngày 28/01/2024, T đã thu tiền bán số lô đề của L1, L2 và khách vãng lai được 5.640.000 đồng; còn C, T2 chưa trả tiền mua số lô đề cho T. T cũng chưa thanh toán tiền thắng thua với H nên T chưa nhận được tiền hoa hồng từ H. Ngoài ra, T còn bán các số lô đề cho Nguyễn Thị T2 cụ thể: Ngày 08/01/2024 các số lô đề với tổng số tiền là 500.000 đồng; ngày 22/01/2024 các số đề với tổng số tiền là 280.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 08/01/2024 và ngày 22/01/2024 xác định T2 không trúng và T đã nhận được 58.500 đồng tiền hoa hồng từ H.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Thành C đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, C giao nộp 01 điện thoại Iphone 6s plus lắp sim điện thoại số 0835.524.xxx và khai nhận: Ngày 28/01/2024 C nhắn tin từ zalo “bắt đầu” của C đăng ký số điện thoại 0835.524.xxx đến zalo “Shop Giang T3” của T3 để đánh các số lô đề với tổng số tiền là 2.450.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 28/01/2024, C trúng được 2.150.000 đồng. C đã mua số lô đề của T3 một vài lần, cụ thể C không nhớ; ngày 28/01/2024 C chưa trả tiền mua số lô đề cho T3, vì CT3 thường mua bán số lô đề ngày hôm trước và thanh toán việc thắng thua vào ngày hôm sau.

Đỗ Thị H khai: H có quen biết Nguyễn Thị Giang T, vì H hay mua quần áo của T. H sử dụng duy nhất 01 số điện thoại 0931.564.xxx đăng ký tài khoản zalo tên “Đỗ Hương” và 01 tài khoản số 19036169634012 mở tại Ngân hàng TMCP K chi nhánh N (T4). Mỗi lần mua quần áo, H thường chuyển tiền cho T và thỉnh thoảng T có nhờ H chuyển tiền vào tài khoản của T sau đó T trả lại cho H bằng tiền mặt. H không biết và không liên quan đến việc mua bán số lô đề của T.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã tiến hành lấy mẫu chữ viết, chữ ký của Nguyễn Thị Giang T để phục vụ công tác giám định.

Tại Kết luận giám định số 281/KLGĐ ngày 30/01/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H, kết luận: Chữ viết trên các mẫu cần giám định so với chữ viết của người mang tên Nguyễn Thị Giang T trên mẫu so sánh là do cùng một người viết ra. Chữ ký không ghi họ tên trên các mẫu cần giám định so với chữ ký của người mang tên Nguyễn Thị Giang T trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra.

Tại Kết luận giám định số 1281/KLGĐ ngày 06/5/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H, kết luận:

  • - Trong mẫu giám định ký hiệu A1 (điện thoại của Nguyễn Thị Giang T): Tìm thấy 2873 cuộc gọi, 576 tin nhắn tức thì, 36 hình ảnh chụp màn hình các cuộc hội thoại bằng ứng dụng Zalo được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên A1 lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM.
  • - Trong mẫu giám định ký hiệu A2 (điện thoại của Nguyễn Thành C): Tìm thấy 4932 cuộc gọi, 169 tin nhắn tức thì, 27 cuộc hội thoại Facebook, 165 cuộc hội thoại Messages, 279 tin nhắn Recents, 468 cuộc hội thoại Zalo được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được thể hiện tại thư mục có tên A2 lưu trong đĩa CD kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu được lưu trong SIM.

Tại Công văn số 17 ngày 11/5/2024 của Ngân hàng TMCP K chi nhánh N, trả lời: Chủ tài khoản 19036169634012 tên Đỗ Thị H, sinh 12/12/1984, trú tại: số C N, Đ, H, Hải Phòng, số điện thoại 0931.564.xxx. Sao kê tài khoản đối ứng trong thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 28/01/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã có văn bản đề nghị Ngân hàng Thương mại Cổ phần H1 cung cấp thông tin và các giao dịch chuyển, nhận tiền của tài khoản số 0936300799 mang tên Nguyễn Thị Giang T nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.

Vật chứng: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno2F số IMEI 1: 869563045045397, số IMEI 2: 869560045045389 kèm theo sim có số ICCID 8984012203240245475 và số tiền 5.640.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Giang T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus có số IMEI: 353301073186806 kèm theo sim có số ICCID 89840200011253971384 thu giữ của Nguyễn Thành C chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An quản lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 05/7/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Thị Giang T về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Giang T khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, như cáo trạng truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Giang T về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Nguyễn Thị Giang T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 09 (Chín) ngày trước đó từ ngày 29/01/2024 đến ngày 07/02/2024.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Giang T không có nghề nghiệp ổn định và tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị
    • + Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno2F thu giữ của Nguyễn Thị Giang T và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus thu giữ của Nguyễn Thành C.
    • + Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 7.918.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc bị cáo đã thu của khách 5.640.000 đồng (gồm của L1 1.300.000 đồng, của L2 1.900.000 đồng, của khách vãng lai 2.440.000 đồng); số tiền bị cáo tự đánh bạc là 1.440.000 đồng; số tiền bị cáo đánh bạc với T2 vào các ngày 08/1/2024, ngày 22/01/2024 và số tiền hưởng lợi bất chính là 838.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 5.640.000 đồng; số tiền bị cáo còn phải nộp là: 7.918.000 đồng - 5.640.000 đồng = 2.278.000 ( Hai triệu, hai trăm, bảy mươi tám nghìn) đồng.
    • + Buộc anh Nguyễn Thành C; địa chỉ: Số A đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.450.000 ( Hai triệu, bốn trăm, năm mươi nghìn) đồng.
    • + Buộc chị Nguyễn Thị T2; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
  • - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Giang T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

  • [1] Điều tra viên Công an quận H, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • [2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Giang T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về việc xác định tội danh, điều luật áp dụng:

  • [3] Ngày 28/01/2024, Nguyễn Thị Giang T đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lô đề, với tổng số tiền đánh bạc là 16.980.000 đồng (gồm: 10.090.000 đồng tiền bán các số lô đề cho khách, 1.440.000 đồng tiền T tự đánh các số lô đề với H và 5.450.000 đồng tiền trúng thưởng).
  • [4] Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị Giang T tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
  • [5] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Giang T phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [6] Bị cáo Nguyễn Thị Giang T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • [7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Giang T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

  • [8] Bị cáo Nguyễn Thị Giang T phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi thường trú rõ ràng nên xử phạt Nguyễn Thị Giang T với mức hình phạt là cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Thị Giang T làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung:

  • [9] Bị cáo Nguyễn Thị Giang T không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • [10] Đối với số tiền 5.640.000 đồng ( Năm triệu sáu trăm bốn mươi) đồng cơ quan công an thu giữ của bị cáo. Xét đây là số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • [11] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno2F thu giữ của Nguyễn Thị Giang T và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus thu giữ của anh Nguyễn Thành C. Đây là những công cụ mà bị cáo T và anh C sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • [12] Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 7.918.000 đồng, trong đó: Số tiền đánh bạc bị cáo đã thu của khách 5.640.000 đồng (gồm của L1 1.300.000 đồng, của L2 1.900.000 đồng, của khách vãng lai 2.440.000 đồng); số tiền bị cáo tự đánh bạc là 1.440.000 đồng; số tiền bị cáo đánh bạc với T2 vào các ngày 08/1/2024, ngày 22/01/2024 và số tiền hưởng lợi bất chính là 838.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 5.640.000 đồng; số tiền bị cáo còn phải nộp là: 7.918.000 đồng - 5.640.000 đồng = 2.278.000 ( Hai triệu, hai trăm, bảy mươi tám nghìn) đồng.
  • [13] Buộc anh Nguyễn Thành C; địa chỉ: Số A đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.450.000 ( Hai triệu, bốn trăm, năm mươi nghìn) đồng.
  • [14] Buộc chị Nguyễn Thị T2; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
  • [15] Đối với Nguyễn Thành C, Vũ Triệu L1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Thị T2 có hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị Giang T ngày 28/01/2024 và Nguyễn Thị T2 có hành vi đánh bạc với Nguyễn Thị Giang T vào các ngày 08/01/2024, ngày 22/01/2024 với số tiền đều dưới 5.000.000 đồng, nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự nên Công an quận H sẽ lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với T, C, L1, L2, T2, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • [16] Đối với Đỗ Thị H không thừa nhận hành vi nhận bảng số lô đề của Nguyễn Thị Giang T (theo lời khai của T). Do thời hạn điều tra đã hết, ngày 07/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định tách hành vi tài liệu liên quan trong vụ án hình sự và ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • [17] Đối với các đối tượng đã mua số lô đề của Nguyễn Thị Giang T vào ngày 28/01/2024 và những ngày trước đó, đến nay không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

  • [18] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Giang T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Giang T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 27 (Hai mươi bảy) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 09 (Chín) ngày trước đó từ ngày 29/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Bị cáo Nguyễn Thị Giang T còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện A, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.
  • Giao bị cáo Nguyễn Thị Giang T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Giang T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát và giáo dục bị cáo Nguyễn Thị Giang T.
  • Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Giang T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:
  • Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
  • Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giao dục kèm theo tài liệu có liên quan.
  • Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno2F số IMEI 1: 869563045045397, số IMEI 2: 869563045045389 kèm theo sim có số ICCID 8984012203240245475 thu giữ của Nguyễn Thị Giang T và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus có số IMEI: 353301073186806 kèm theo sim có số ICCID 89840200011253971384 thu giữ của anh Nguyễn Thành C.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2024 giữa Công an quận H, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
    • + Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 7.918.000 (Bảy triệu chín trăm mười tám nghìn) đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 5.640.000 đồng; số tiền bị cáo còn phải nộp là: 7.918.000 đồng - 5.640.000 đồng = 2.278.000 (Hai triệu, hai trăm, bảy mươi tám nghìn) đồng.
    • (Theo Biên lai thu tiền số 0004819 ngày 05/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
    • + Buộc anh Nguyễn Thành C; địa chỉ: Số A đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.450.000 ( Hai triệu, bốn trăm, năm mươi nghìn) đồng.
    • + Buộc chị Nguyễn Thị T2; địa chỉ: Tổ A phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng phải nộp lại số tiền đánh bạc là 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
  • - Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Bị cáo Nguyễn Thị Giang T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo đối với bản án:
    • + Bị cáo Nguyễn Thị Giang T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Công an quận Hải An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về đánh bạc

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: G - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger