TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 02 - 12- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Hòa và ông Nguyễn Xuân Vinh.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST - HS, ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Văn T; Sinh ngày 19 tháng 03 năm 2004 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản P, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Dân Tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha mẹ đẻ: chưa xác định được; Cha nuôi: Lương Văn D và mẹ nuôi Kha Thị Y; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 9 năm 2024 đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn L, sinh năm 1984, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh N.
Địa chỉ: Số E, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ vào các dịp lễ, tết nên Lương Văn T đã truy cập mạng xã hội Facebook để tìm mua pháo nổ. Thiên liên hệ được với một người không quen biết và đặt mua 05 (năm) khối pháo nổ, gồm: 03 (ba) khối pháo nổ loại 36 quả/khối và 02 (hai) khối pháo nổ loại 49 quả/khối, với giá 400.000 đồng/khối. Quá trình giao dịch qua mạng Facebook, T và người đàn ông không quen biết hẹn nhau ngày 11 tháng 9 năm 2024 sẽ mua bán và giao nhận pháo tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Q và đường Q thuộc địa phận xóm V, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T đi đến địa điểm đã hẹn thì gặp một nam thanh niên không quen biết. Bị cáo T đưa cho nam thanh niên số tiền 2.000.000 đồng thì người này chỉ cho Thiên vị T1 cất giấu pháo tại khu vực bãi rác ở gần đó. T đi đến vị trí nam thanh niên đã chỉ, thấy có một bì xác rắn màu trắng, kiểm tra bên trong có 05 (năm) khối pháo. Thiên khiêng bì pháo vừa đi ra đến đường Q thuộc xóm V, xã N, huyện N thì bị Tổ công tác của Công an các xã N, N, N - thuộc Công an huyện N phối hợp kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: 01 (một) bì xác rắn màu trắng bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, gồm: 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12,5)cm, bên ngoài có ký hiệu A8503AA; 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài có ký hiệu A8420; 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có ký hiệu KS4-4911; 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có ký hiệu C0837 (nghi là pháo nổ); thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh đen, gắn sim số thuê bao 0898.729.231. Tổ công tác đã chuyển giao đối tượng, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An đã thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định đối với số pháo thu giữ của Lương Văn T, xác định: 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật đều có kích thước (15x15x12,5)cm, bên ngoài có ký hiệu A8503AA (ký hiệu M1), có khối lượng là 03 kg (ba kilôgam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (14x14x10)cm, bên ngoài có ký hiệu A8420, (ký hiệu M2), có khối lượng là 1,1 kg (một phẩy một kilôgam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có ký hiệu KS4-4911 (ký hiệu M3), có khối lượng là 1,7 kg (một phẩy bảy kilôgam); 01 (một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có ký hiệu C0837 (ký hiệu M4), có khối lượng là 1,7 kg (một phẩy bảy kilôgam). Tổng khối lượng của 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật thu giữ của Lương Văn T khi bắt quả tang vào ngày 11/9/2024 là 7,5 kg (bảy phẩy năm kilôgam).
Tại Kết luận giám định số 352/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 17/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: "Các mẫu vật M1, M2, M3, M4 gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”
Ngày 27/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N lập biên bản kiểm tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh đen, gắn sim số thuê bao 0898.729.231, đã qua sử dụng thu giữ của Lương Văn T.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận khối lượng, kết luật giám định và các Quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.
Bản cáo trạng số 99/CT-VKS-NL ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn T về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Văn T về tội "Tàng trữ hàng cấm" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 06 đến 09 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng số pháo thu giữ của bị cáo đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh đen, gắn sim số thuê bao 0898.729.231 thu giữ của T, đã qua sử dụng đề nghị Hội đồng tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 bì xác không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí : Do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và không tranh luận gì.
Người bào chữa của bị cáo thừa nhận nội dung truy tố của Viện kiểm sát là đúng quy định của pháp luật, thống nhất về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện viện kiểm sát vừa trình bày. Tuy nhiên, người bào chữa cho bị cáo bổ sung thêm đó là: Bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức về mặt pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới khung thấp hơn so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 04 tháng để bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ân hận với việc làm của mình, bị cáo lần đầu phạm tội không có việc làm nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo được sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, khung hình phạt: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 11/9/2024, tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Q và đường Q thuộc xóm V, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T đang có hành vi tàng trữ 7,5 kg (bảy phẩy năm kilôgam) pháo nổ nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an các xã N, N, N - thuộc Công an huyện N phối hợp phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố là đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt: Xét vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế trong việc sản xuất, tàng trữ những mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, Đảng và Nhà nước đang có chủ trương cấm tàng trữ, sử dụng các loại pháo nhưng bị cáo không chấp hành mà lại vi phạm pháp luật nên cần xử nghiêm tưng xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Tại biên bản thu và tiến hành kiểm tra bảng test thử phát hiện nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo kết quả: Dương tích với chất ma túy (H) điều này cũng phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa do bạn bè của bị cáo rủ rê nên trước ngày bị bắt bị cáo đã sử dụng ma túy. Do đó cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định. Vì vậy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần xem xét cho bị cáo bởi, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; (điểm i, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự); bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức về mặt pháp luật của bị cáo có phần còn hạn chế nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, thu nhập không ổn định lại đang sống chung với bà nôi, không có tài sản riêng Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Số pháo thu giữ của bị cáo đã được sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 bì xác là vật không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh đen, gắn sim số thuê bao 0898.729.231 thu giữ của Lương Văn T, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Xét đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng trong việc phạm tôi nên cần tịch thu sung quý nhà nước theo quy định.
[6] Các vấn đề khác: Đối với người có tài khoản Facebook và nam thanh niên đã giao dịch mua bán và giao pháo cho bị cáo T, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể nên cơ quan điều tra C L1 không có căn cứ xử lý là đúng.
[7] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội "Tàng trữ hàng cấm".
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 9 năm 2024.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy 01 bì xác rắn màu trắng đã qua sử dụng đã cũ; Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh đen, gắn sim số thuê bao 0898.729.231 thu giữ của Lương Văn T để sung quỹ Nhà nước. Hiện vật chứng đang được tạm giữ tại kho vật chứng của cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo biên bản bản giao ngày 15 tháng 11 năm 2024.
Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Lương Văn T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Văn T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hải Dương |
Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An về tàng trữ hàng cấm (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 99/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử bị cáo 6 tháng tù
