Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 99/2024/HSST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Đình Thức

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 94/2024/HSST ngày 25 tháng 04 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quang T; sinh năm 1993; tại: Bến Tre; trú tại: 7 đường H, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quang P, năm sinh 1967 và bà Trần Thị Út G, sinh năm 1975; vợ: Đàm Phụng D, sinh năm 1995, và con: 02 người lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2024; nhân thân: ngày 28/01/2019 bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tiền sự: Không, tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/11/2023 – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận T kết hợp với Công an phường T, quận T nghi vấn Lê Quang T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đưa T đến trụ sở Công an phường T làm việc. Qua làm việc, T thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy và đang cất giấu 01 gói ma túy đá tại nhà số G Hòa Bình, phường T, quận T.

Tiến hành khám xét nhà của T tại địa chỉ trên thu giữ tại phía dưới tủ bằng kim loại tầng 2 có 01 bao nylon màu đen bên trong có 01 hộp nhựa, bên trong hộp nhựa có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 02 gói nylon rỗng chưa qua sử dụng, 01 cái nỏ bằng thủy tinh.

T khai nhận số ma túy trên mua của một người (chưa rõ lai lịch) trên mạng xã hội Facebook với giá 300.000 đồng vào khoảng 10 ngày trước, do sợ gia đình biết nên T đã xóa trang Facebook này. Mục đích T mua ma túy về để sử dụng, việc T sử dụng, tàng trữ ma túy tại nhà thì không ai biết.

Theo bản kết luận giám định số 13012/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3303g, loại Methamophetamine.

Vật chứng:

- 01 gói niêm phong số 13012, bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Lương Minh T1 và Giám định viên Bùi Công D1.

- 01 bao nylon màu đen, 01 hộp nhựa, 02 gói nylon rỗng chưa qua sử dụng, 01 ống nỏ thủy tinh, là dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh đen, số Imei 1: 865532066523552; Imei 2: 865532066523545.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Quang T 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về mà túy Công an quận T phát hiện Lê Quang T có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra và đưa T về trụ sở Công an làm việc, tại Cơ quan Công an T thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy và đang cất giấu ma túy tại nhà của T. Tiến hành khám xét nhà của T thu giữ 01 bao nylon đen bên trong có một hộp nhựa, bên trong hộp nhựa đen có một gói nylon chứa tinh thể không màu, một số gói nylon rỗng chưa qua sử dụng, 01 cái nỏ bằng thủy tinh. Bị cáo T khai số ma túy trên bị cáo mua qua mạng Facebook của một người không rõ lai lịch để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo tàng trữ 0,3303 gam ma túy loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận T truy tố bị cáo Lê Quang T theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

[4] Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 28/01/2019 bị Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 27/4/2019, đây là tình tiết cần xem xét khi lượng hình.

[5] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong số 13012, bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Lương Minh T1 và Giám định viên Bùi Công D1, đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 bao nylon màu đen, 01 hộp nhựa, 02 gói nylon rỗng chưa qua sử dụng, 01 ống nỏ thủy tinh, là dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1: 865532066523552; Imei 2: 865532066523545, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào điều tra, làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Lê Quang T 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 20 tháng 11 năm 2023.

  2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 13012, bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Lương Minh T1 và Giám định viên Bùi Công D1 và 01 (một) bao nylon màu đen, 01 (một) hộp nhựa, 02 gói nylon rỗng chưa qua sử dụng, 01 (một) ống nỏ thủy tinh.

    - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, số Imei 1: 865532066523552; Imei 2: 865532066523545

    (Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 47/PNK ngày 05/4/2023 của Công an quận T)

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKS quận Tân Phú;
  • - THA quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Hoàng Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HSST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger