Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

Bản án số: 99/2025/HSST

Ngày: 26/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hành

Ông Nguyễn Văn Tuất

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:

Bà Từ Ngọc Thuý – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa:

Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 88/2025/HSST ngày 22/5/2025 theo Quyết định đưa ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 12/6/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn N - sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Xóm Á, xã T, T, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá:9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Giới tính: nam. Con ông: Nguyễn Văn D; Con bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); A, chị, em ruột: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. D1 chỉ bản số 115 ngày 28/2/2025 Công an huyện T lập; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Bản án số 210/2022/HSST ngày 30/9/2022 của TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (chưa xoá án tích). Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 23/01/2025. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Kiều Quang V - sinh năm 1974; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện Ứ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Giới tính: nam. Con ông: Kiều Xuân T (đã chết); Con bà: Đỗ Thị T1 (đã chết). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Có vợ: Lê Thị K. Có 02 con, con lớn sinh năm: 1997, nhỏ sinh năm 2008. D1 chỉ bản số 98 ngày 19/2/2025 Công an huyện T lập; Tiền án, Tiền sự: không. Nhân thân: ngày 08/8/2012 bị cáo bị Công an quận T, Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 114719, mức phạt 200.000 đồng (đã hết thời hiệu). Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 23/01/2025. Có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Kiều Anh T2 - sinh năm: 1972. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã B, huyện Ứ, Hà Nội. Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: không; Con ông: Kiều Quý C (đã chết); Con bà: Kiều Thị L (đã chết); A, chị, em ruột: Có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ: Kiều Thị N2, có 3 con, con lớn nhất sinh năm: 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2008. D1 chỉ bản số 97 ngày 19/2/2025. Công an huyện T lập; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 23/01/2025. Có mặt tại phiên toà.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1967; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở : Thôn N, xã B, huyện Ứ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; Giới tính: nam. Con ông: Nguyễn Mạnh D2 (đã chết); Con bà: Kiều Thị L1 (đã chết). Gia đình bị cáo có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Có vợ : Lê Thị N3. Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh 1993. D1 chỉ bản số 99 ngày 19/2/2025 Công an huyện T lập; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 23/01/2025. Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Thanh T4, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số B, T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N:

  1. Bà Vũ Thị N4, sinh năm: 1982.
  2. Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1979.

Luật sư Vũ Thị N4 và luật sư Nguyễn Quang H – Luật sư Đoàn luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: Công ty L2, tầng 2, số C phố V, phường K, T, Hà Nội.

Đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đều làm nghề chạy xe ôm ở khu vực trước cổng chung cư E (địa chỉ số B N, T, T, Hà Nội). Quá trình đón khách ở đây, cả nhóm thường xuyên vào trong chung cư để mời chào khách nên đã nhiều lần được lực lượng bảo vệ chung cư nhắc nhở, yêu cầu không dừng, đỗ xe và bắt khách tại khu vực bên trong chung cư mà chỉ được ở bên ngoài hàng rào đợi đón khách có nhu cầu. Tuy nhiên, khoảng thời gian giao ca từ 6 giờ 30 phút đến 7 giờ sáng hàng ngày, do nhiều người dân ở chung cư có nhu cầu đi lại nên lực lượng bảo vệ chung cư vẫn tạo điều kiện cho những người làm nghề xe ôm được vào bên trong chung cư đón khách nhưng không được mặc áo G để tránh gây ảnh hưởng đến mỹ quan và an ninh của chung cư.

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 20/8/2024, Nguyễn Văn N mặc áo G dài tay màu xanh (dạng áo chùm), Kiều Quang V mặc áo thun grab màu xanh dài tay, Kiều Anh T2 mặc áo khoác grab màu xanh có mũ bên ngoài, Nguyễn Văn T3 mặc khoác áo ba lỗ không có tay grab màu xanh điều khiển xe máy đến khu vực trước cổng tòa nhà chung cư E để đón khách. Khi đến cổng chung cư, N, V, T2, T3 đều dựng xe máy ở ngoài cổng rồi đi bộ vào khu vực bên trong sảnh chính của chung cư để nằm, ngồi mời chào khách. Lúc này có anh Nguyễn Huy T5 (sinh năm 1977, HKTT: thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai) là nhân viên bảo vệ chung cư đã yêu cầu nhiều lần những người này ra khỏi chung cư nhưng những người này không ra vẫn tiếp tục ở lại để bắt khách. Khoảng 15 phút sau, anh Phạm Thanh T4 (sinh năm: 1982; HKTT: phường V, quận Đ, Hà Nội) là chỉ huy ca đêm của tổ bảo vệ chung cư E đang làm việc ở dưới hầm gửi xe của tòa nhà nhận được điện đàm của nhân viên bảo vệ đang làm việc ở sảnh chung cư báo về việc có một số người nam giới là xe ôm mặc áo G vào trong khu vực chung cư nằm, mời chào khách gây ảnh hưởng đến mỹ quan và an ninh, dù lực lượng bảo vệ làm việc ở sảnh chung cư đã yêu cầu nhưng những người này không chịu ra khỏi khu vực chung cư. Khi đó, anh Phạm Thanh T4 mặc quần bảo vệ, mặc áo sơ mi cộc tay kẻ (do T4 vừa thay áo để chuẩn bị thay ca) đi lên sân trung tâm khu vực cổng chính của chung cư thấy N đang mời chào khách. Anh Phạm Thanh T4 đi đến gần và yêu cầu N ra ngoài khuôn viên chung cư thì Ngọc tưởng T4 là khách nên mời chào đi xe ôm. Sau đó, anh Phạm Thanh T4 dùng tay nắm cổ áo N với mục đích để kéo N ra khỏi sân chung cư nên hai bên đã xảy ra tranh cãi. Lúc này, Kiều Quang V; Kiều Anh T2; Nguyễn Văn T3 đang đứng mời chào khách đi xe ôm gần đó, khi thấy N và anh Phạm Thanh T4 xảy ra xô xát, V chạy đến can ngăn thì bị anh Phạm Thanh T4 dùng tay tóm cổ áo giật kéo thì T2 lao tới dùng tay trái đấm một cái trúng vào vùng mặt khiến anh T4 bị choáng ngã nằm ở sân; V nằm đè lên người anh T4 rồi dùng cùi chỏ tay phải đánh thúc trúng vào mạn sườn bên trái 03 (ba) cái; T3 dùng tay phải đấm 01 (một) cái trúng vào lưng và dùng chân phải đạp 02 (hai) cái trúng vào vùng đầu của anh T4 còn N dùng tay phải đấm 01 (một) cái trúng vào vùng mặt anh T4. Quá trình bị đánh, anh T4 phản kháng phòng vệ, khua chân tay lung tung để đỡ và gạt ra nhưng không trúng ai. Lúc này, anh Nguyễn Huy T5 và anh Nguyễn Văn B (sinh năm: 1968; HKTT: Hoằng Xuyên, H, Thanh Hóa) cùng một số người vào can ngăn thì tất cả dừng lại và giải tán. Hậu quả: Anh Phạm Thanh T4 bị gãy xương mũi chính, vết thương phần mềm cung mày bên phải, bầm tím quanh hốc mắt bên phải.

Hành vi dùng chân tay không đánh gây thương tích cho anh Phạm Thanh T4 của Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 tại khu vực sảnh chính chung cư E là nơi công cộng, đông người qua lại đã gây tâm lý hoang mang cho người dân ở chung cư (đặc biệt là những người dân không có nhu cầu đi xe ôm mà vẫn bị chèo kéo hàng ngày), gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã T, huyện T, Hà Nội. Ngày 20/11/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T nhận được công văn của UBND xã T và ban Q về việc đề nghị cơ quan điều tra xử lý nghiêm vụ việc các đối tượng đánh nhau xảy ra ngày 20/08/2024 tại chung cư E, số B N, xã T, huyện T, Hà Nội theo đúng quy định pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của các bị can phù hợp với lời khai của người liên quan Phạm Thanh T4 và những người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 02/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích của anh Phạm Thanh T4 nhưng anh T4 từ chối giám định thương tích. Ngày 24/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định dẫn giải và tiến hành dẫn giải anh Phạm Thanh T4 đi giám định theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, anh T4 kiên quyết từ chối không đi giám định thương tích với lý do: 02 (hai) bên đã hòa giải, chỉ thương tích nhẹ, hiện đã ổn định, không còn ảnh hưởng đến sức khỏe. Bản thân anh T4 có đơn từ chối đi giám định thương tích, đơn đề nghị xin rút đơn trình báo và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn N.

Đối với 01 (một) USB Kingston bên trong có chứa 01 (một) file video liên quan đến vụ án, ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 file video trên. Tại Kết luận giám định số 8601 ngày 18/12/2024 của Phòng K1 (PC09) - Công an T6 kết luận: “không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

Về dân sự: Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đã tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Thanh T4 số tiền 15.000.000 đồng. Anh T4 đã nhận số tiền bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3.

Tại bản cáo trạng: số 94/CT- VKS- TT ngày 10/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo khoản 1 Điều 318 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận tội danh bị truy tố là đúng. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều có khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38 - Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 12 đến 15 tháng tù.
  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 - Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo Kiều Quang V từ 10 đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 20 đến 28 tháng.
  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Kiều Anh T2 từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 16 đến 24 tháng.
  • + Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 - Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 16 đến 24 tháng.

Về dân sự: Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đã tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Thanh T4 số tiền 15.000.000 đồng. Anh T4 đã nhận số tiền bồi thường và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì không xem xét về phần dân sự.

Về vật chứng: Đối với 01 USB Kingston bên trong có chứa file video liên quan đến vụ án, ngày 16/10/2024 cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của luật sư Vũ Thị N4, Luật sư Nguyễn Quang H bảo vệ cho bi cáo Nguyễn Văn N: Bị cáo N làm nghề xe ôm, không có mâu thuẫn gì với anh T4. Đây là hành hành vi bột phát, không có sự chuẩn bị trước. Bị cáo N có ông nội là người có công với cách mạng. Bị cáo N cùng với các bị cáo khác đã bồi thường thiệt hại cho anh T4 và phía anh T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Luật sư xin Hội đồng xét xử cho bị cáo N được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T6), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều thực hiện hợp pháp.

2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên toà, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 là xe ôm G thường xuyên vào trong khu vực chung cư E, xã T, huyện T, Hà Nội để chèo kéo đón khách gây mất an ninh trật tự. Dù đã nhiều lần được lực lượng bảo vệ chung cư nhắc nhở về việc không được mặc áo G vào trong khu vực chung cư để mời chào khách, tránh gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự và mỹ quan của chung cư nhưng khoảng 6 giờ 30 phút ngày 20/08/2024, Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 vẫn mặc áo G vào trong khu vực chung cư nằm, ngồi ở khu vực sân chung cư để mời chào khách, khi được lực lượng bảo vệ nhắc nhở, cả nhóm vẫn không chịu ra khỏi chung cư đến khi anh Phạm Thanh T4 là nhân viên bảo vệ kéo cổ áo N ra ngoài thì cả nhóm lao vào dùng chân tay không đánh gây thương tích cho anh Phạm Thanh T4. Hành vi của các bị cáo gây hoang mang trong cư dân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã T, huyện T, Hà Nội. Đối chiếu quy định của pháp luật Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại khoản 1, Điều 318 – Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo để Tòa án đưa ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có cơ sở pháp lý.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự chung, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần loại trừ những hành vi có hại cho trật tự xã hội mới, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự.

3. Về các tình tiết tăng nặng; Bị cáo Nguyễn Văn N có 01 tiền án chưa xóa án tích. Do đó lần này bị cáo phạm tội là tái phạm.

Các bị cáo Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 không có tình tiết tăng nặng.

4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà tất cả các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người liên quan nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Kiều Quang V có 01 tiền sự đã xóa coi như chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều giấy khen trong thời gian tham gia công tác tại Ủy ban nhân dân phường K, quận T, Hà Nội. Bị cáo N có ông nội là người có công với cách mạng. Các bị cáo Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự.

Bị cáo Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

6. Vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Hành vi phạm tội của các bị cáo do sự bộc phát không có sự bàn bạc chuẩn bị từ trước. Bị cáo Nguyễn Văn N có vai trò cao nhất, rồi đến bị cáo Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 có vai trò thấp nhất.

Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn N có 01 tiền án (chưa xóa án tích), lần này phạm tội là tái phạm thể hiện nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Văn N đã được pháp luật giáo dục nhưng vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe bị cáo.

Các bị cáo Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Các bị cáo Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3, Kiều Quang V đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội do bột phát, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Kiều Quang V có nhiều giấy khen trong quá trình công tác. Do vậy, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của hội đồng Thẩm phán TANDTC. Căn cứ vào nghị quyết số 02/VBHN- TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp dụng án Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo ngày 07/9/2022. Do vậy, cho các bị cáo Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Về dân sự: Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 đã bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Thanh T4 số tiền 15.000.000 đồng, anh T4 không có yêu cầu gì về dân sự.

Về vật chứng: 01 USD Kinhgston bên trong có chứa một file video liên quan đến vụ án, ngày 16/10/2024 cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 134, 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng" tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 – Bộ luật hình sự.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, điều 38 - Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Kiều Quang V.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểmi, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đối với các bị cáo Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3
  5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  6. Xử phạt bị cáo Kiều Quang V 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2025).
  7. Giao bị cáo Kiều Quang V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Ứ, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  8. Xử phạt bị cáo Kiều Anh T2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2025).
  9. Giao bị cáo Kiều Anh T2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Ứ, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  10. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2025).
  11. Giao bị cáo Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Ứ, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đã được hưởng.

  12. Về vật chứng: tiếp tục lữu giữ 01 USB Kingston trong hồ sơ vụ án.
  13. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 bộ luật tố tụng hình sư năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  14. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  15. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  16. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết bản án hoặc niêm yết bản án.

  17. Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
  18. Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TANDTP Hà Nội;
  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Nguyễn Thị Kim Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HSST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 99/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Văn N, Kiều Quang V, Kiều Anh T2, Nguyễn Văn T3 phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger