|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2025/HSST
Ngày: 25/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trần Tiến – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2025/TLST - HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hồng P; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1997, tại: A, thành phố Cần Thơ.
Nơi ĐKTT: Số 10/24/6 Văn Ngọc C, khóm 5, phường Phú Lợi, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: Khu phố 10 Dương Đông, đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 08/12.
Cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1955, đã chết.
Mẹ: Dương Thị L, sinh năm 1966, còn sống.
Bị cáo không có anh chị em.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam P, trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh A từ ngày 31/7/2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 30/07/2025, do cần sử dụng ma túy nên Nguyễn Hồng P đi bộ đến trước cổng nghĩa trang L1 thuộc khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang mua của người phụ nữ tên thường gọi là N (chưa rõ nhân thân) 02 bịch ma túy, với giá 1.000.000 đồng và N cho P thêm 01 bịch ma túy loại nhỏ. Sau khi mua được ma túy, P cất giấu 03 bịch ma túy vào túi xách đeo trên người và đi về quán B trên đường C thuộc khu phố A D, đặc khu P để tiếp tục làm việc. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đặc khu P1 kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hồng P đang tàng trữ trái phép 03 bịch ma túy trong túi xách để sử dụng nên lập biên bản phạm tội quả tang. Ngày 08/8/2025, Nguyễn Hồng P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu trắng, kích thước khoảng 03cm x 04cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong).
- - 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 03cm x 03cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong).
- - 01 (một) bịch nylon trong suốt, có rãnh gài viền màu trắng, kích thước khoảng 1,8cm x 2,5cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong).
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3x, màu xanh, số imei 1: 863929078686611, số imei 2: 863929078686603, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) túi xách da màu đen, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định số: 160/KL-KTHS, ngày 05/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A kết luận:
Các hạt tinh thể rắn, màu trắng, không đồng nhất chứa trong 03 (ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 2,2516 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 21/CT-VKSKV2 ngày 21 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày bản luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hồng P đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P mức án từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì gồm: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng, kích thước khoảng 03 cm x 04 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 03 x 03 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng kích thước khoảng 1,8 cm x 2,5 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 2,2516 gam được đựng trong 01 (một) bịch nylon và 01 (một) túi xách da, màu đen, đã qua sử dụng.
- Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3x, màu xanh, số imei 1: 863929078686611, số imei 2: 863929078686603, đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, nên có đủ căn cứ xác định: Vào lúc 21 giờ 30 phút, ngày 30/7/2025, tại quán B thuộc khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang, Nguyễn Hồng P đang tàng trữ 2,2516 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị lực lượng Công an đặc khu P1 phát hiện bắt quả tang. (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ)
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời làm ảnh hướng đến tình hình tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thế nhưng chỉ vì để có ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đó là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì gồm: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng, kích thước khoảng 03 cm x 04 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 03 x 03 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng kích thước khoảng 1,8 cm x 2,5 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 2,2516 gam được đựng trong 01 (một) bịch nylon và 01 (một) túi xách da, màu đen, đã qua sử dụng.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3x, màu xanh, số imei 1: 863929078686611, số imei 2: 863929078686603, đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[6]. Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên N chưa rõ nhân thân, bán ma túy cho Nguyễn Hồng P, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[7]. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang: Về tội danh, mức hình phạt, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và các vấn đề khác mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Trách nhiệm hình sự:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025.
- - Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 31/7/2025.
- - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Hồng P không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì gồm: 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng, kích thước khoảng 03 cm x 04 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất; 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu xanh, kích thước khoảng 03 x 03 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu trắng kích thước khoảng 1,8 cm x 2,5 cm bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và các hạt tinh thể còn lại sau giám định có khối lượng là 2,2516 gam được đựng trong 01 (một) bịch nylon và 01 (một) túi xách da, màu đen, đã qua sử dụng.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3x, màu xanh, số imei 1: 863929078686611, số imei 2: 863929078686603, đã qua sử dụng, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
(Các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang theo quyết định chuyển giao vật chứng số 14/QĐ-VKSKV2 ngày 21/11/2025 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2025)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Hồng P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Nhung |
Bản án số 99/2025/HSST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 99/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
