Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 99/2025/HSST

Ngày 02/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc

Bà Phan Thị Nhụ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2025/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, đối với bị cáo:

Hoàng Văn Đ

Sinh năm 1998; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn K, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Văn H và con bà Lương Thị M; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Không có; Vợ là Nông Thị M1, sinh năm 1998 (đã ly hôn năm 2019); Con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 16/12/2024, tại khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế và Ma tuý Công an thị xã Q phối hợp Công an phường P phát hiện bắt quả tang Hoàng Văn Đ có hành vi bán pháo nổ. Thu giữ tại nền đất sát cạnh vị trí Đ đang đứng 01 thùng bìa cát tông màu đỏ có chữ nước ngoài bên trong có 06 hộp hình lập phương bên ngoài mỗi hộp được bọc bằng giấy bóng nhiều màu sắc có chữ nước ngoài, Đ khai nhận đó là pháo nổ Đ dùng để bán; thu giữ tại lòng bàn tay phải Đ số tiền 2.000.000 đồng, Đ khai nhận là tiền vừa bán pháo nổ. Trước sự chứng kiến của người làm chứng, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiến hành khám xét chỗ ở của Đ tại thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh không phát hiện thu giữ tài liệu đồ vật gì.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Q, tại Bản kết luận giám định số 49/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“06 (sáu) hộp hình lập phương, bên ngoài mỗi hộp đều được bọc bằng giấy bóng nhiều màu sắc có chữ nước ngoài gửi giám định có tổng khối lượng là 9.406 gam (chín nghìn bốn trăm linh sáu gam); Là pháo hoa nổ (pháo nổ).

Pháo hoa nổ (pháo nổ) được quy định tại nghị định số 137/2020/NĐCP, ghi ngày 27/11/2020 của Chính Phủ và quản lý, sử dụng”.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, Đ đang ở phòng trọ tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì nhận được cuộc gọi qua zalo của người bạn ngoài xã hội, Đ chỉ biết tên C ở phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh rủ xuống khu phố G, phường P, thị xã Q, Đ đồng ý. Sau đó, Đ đi xe ôm đến quán nước ở khu phố G, phường P thì gặp C. Đ và C ngồi nói chuyện một lúc thì C đi đâu đó khoảng 10 phút sau quay lại có bê 01 thùng bìa cát tông màu đỏ là pháo nổ và rủ Đ đi cùng để bán pháo, hứa cho Đ 500.000 đồng thì Đ đồng ý. Khoảng 5 phút sau, có người gọi điện thoại đến cho C hỏi mua pháo nổ. Sau đó, C điều khiển xe mô tô chở Đ ngồi sau ôm thùng bìa cát tông màu đỏ chứa pháo đi đến khu vực Công viên khu phố G, phường P thì gặp 02 người đàn ông. C dừng xe và bảo Đ bê thùng pháo xuống bán cho 02 người đàn ông. Tiếp đó Đ bê thùng pháo xuống thì có một người đàn ông tiến lại gần nói: “mở ra cho anh xem”. Sau khi kiểm tra xong, người đàn ông đưa cho Đ 2.000.000 đồng, Đ cầm tiền thì đúng lúc này bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt quả tang còn C và người đàn ông mua pháo bỏ đi đâu không ai biết.

* Vật chứng vụ án:

01 (một) thùng cát tông được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B mẫu vật sau giám định và số tiền 2.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình vào ngày 16/12/2024.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSQV ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Hoàng Văn Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Hoàng Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng carton đựng mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng P09 Công an tỉnh B.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tam gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản phạm tội quả tang và vật chứng đã được thu hồi thể hiện: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 16/12/2024, tại khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an thị xã Q phối hợp Công an phường P bắt quả tang Hoàng Văn Đ có hành vi bán trái phép 9.406 gam (chín nghìn bốn trăm linh sáu gam) pháo hoa nổ (pháo nổ) cho 01 người đàn ông với giá 2.000.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được, lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận Hoàng Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình vi dân sự, nhận thức được việc buôn bán pháo nổ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi mà vẫn cố tình thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản tích lũy nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng: 01 (một) thùng cát tông được dán kín, niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của phòng K - Công an tỉnh B mẫu vật sau giám định đều là hàng cấm buôn bán nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 2.000.000đ là tiền bị cáo bán hàng cấm mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với người người đàn ông tên C đã rủ Đ đi bán pháo nổ và 02 người đàn ông mua pháo của Đ. Quá trình điều tra Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm".

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: Hoàng Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 16/12/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng carton đựng mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng P09 Công an tỉnh B.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000đ đã được chuyển vào tài khoản 3949.105.3891.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ tại Kho bạc nhà nước thị xã Q kèm theo giấy nộp tiền.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng số 85 ngày 25/02/2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh, VKS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp Bắc Ninh;
  • - Viện kiểm sát thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Phân trại tạm giam Quế Võ;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HSST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về buôn bán hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 99/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Đ - “Buôn bán hàng cấm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger