|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2025/HS-ST
Ngày: 20-6-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trọng Hải
- Bà Đỗ Thị A
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 06 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Vũ Hạ U; sinh ngày: 25/6/1987 tại Thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C Â, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Trung Ú và bà: Nguyễn Lê H (chết); bị cáo có 03 con nhỏ nhất sinh năm 2016, lớn nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/3/2024 “Đánh bạc” bị Công an Q xử phạt hành chính 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 13614/QĐ-XPHC ngày 28/3/2024. Chấp hành nộp phạt xong ngày 30/5/2024; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận E.
2/ Lê Văn H1; sinh ngày: 16/10/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H2 và bà: Vũ Thị H3; tiền án: 02 tiền án, ngày 30/7/2009, “Cướp tài sản” bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù giam theo bản án số 277/2009/HSST ngày 30/11/2009. Ngày 31/7/2009, “Cưỡng đoạt tài sản”, bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù theo Bản án số 69/2010/HSST ngày 07/5/2010; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/2/2021, “Bắt giữ người trái pháp luật”, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự phúc thẩm số 25/2022/HSST ngày 17/01/2022. Chấp hành án đến ngày 24/5/2022 hết án tha. Bị cáo chấp hành nộp án phí xong ngày 21/3/2022. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
3/ Nguyễn Ngọc T; sinh ngày: 10/12/1977 tại Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: H N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 8 N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Huỳnh Thị B; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/4/2008 “Đánh bạc” bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo Bản án số 227/2008/HSST ngày 13/8/2008. Chấp hành nộp án phí, nộp phạt xong ngày 27/6/2014. Ngày 11/2/2019 “Cố ý gây thương tích” bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 khởi tố bị cáo số 118 ngày 15/7/2019 về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 07/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 ra Quyết định đình chỉ điều tra bị cáo số 01 đối với Nguyễn Ngọc T. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
4/ Nguyễn Văn H4; sinh ngày: 02/01/1967 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 72/19/10 P, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn X (chết) và bà: Nguyễn Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
5/ Nguyễn Song Tiến B1 (tên gọi khác: T1); sinh ngày: 22/4/1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu C (chết) và bà: Nguyễn Thị S; vợ: Trần Thị N; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/4/1998 “Vi phạm quy định về giao thông đường bộ” và “Gây rối trật tự công cộng” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù theo Bản án số 2025/HSST ngày 19/7/1999. Kết quả xác minh không có thông tin hồ sơ chấp hành xong án phạt tù. Kết quả xác minh Chấp hành nộp án phí xong. Đối với phần bồi thường dân sự Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra dữ liệu thì hành án xong từ năm 1999 đến nay, kết quả chưa lưu trữ hồ sơ thì án nào liên quan đến phần bồi thường của Bản án trên hoặc do đương sự chưa có đơn yêu cầu thì hành án nên Cơ quan thi hành án chưa thi hành khoản bồi thường nêu trên. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
6/ Ngô Xuân P; sinh ngày: 25/5/1960 tại Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 6 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 169 Đường T, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Quang H5 (chết) và bà: Nguyễn Thị Ư (chết); vợ: Phạm Thị Kiều T2; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/12/2007 “Đánh bạc” bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 85/2008/HSST ngày 07/5/2008. Chấp hành án đến ngày 17/01/2009, đặc xá tha. Kết quả xác minh Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh chưa nhận được Bản án trên để thi hành. Ngày 31/10/2011 “Tổ chức đánh bạc” bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù theo Bản án số 145/HSST ngày 20/7/2012. Chấp hành án đến ngày 07/9/2013 giảm án tha. Chấp hành nộp án phí, nộp phạt xong ngày 15/7/2015. Ngày 08/12/2016 “Đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù theo bản án số 77/2017/HSST ngày 13/7/2017. Chấp hành án đến ngày 08/8/2018 giảm án tha; Chấp hành nộp án phí, nộp phạt xong ngày 15/7/2015. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
7/ Nguyễn Minh T3; sinh ngày: 28/3/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 9S Lô B P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 9S Lô B P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Xe ôm; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh C1 và bà: Bùi Thị H6; vợ: Võ Thị Kim T4; bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.
8/ Lê Thị Thanh H7; sinh ngày: 22/8/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 399/16/19 L, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 Bà H, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T5 và bà: Nguyễn Thị X1; chồng: Nguyễn Di N1; bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận E.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 20 giờ 30 ngày 25/09/2024, Đ1 Công an Q2 (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) phối hợp cùng với Công an P1, Quận A kiểm tra nhà số C đường L, Phường 1, Quận A bắt quả tang Vũ Hạ U, Lê Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1 đang tổ chức cho Nguyễn Minh T3, Ngô Xuân P, Lê Thị Thanh H7 và Vũ Hạ U đánh bạc bằng hình thức binh xập xám thắng thua bằng tiền, thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá, 01 bộ dụng cụ để đổ xí ngầu, 40 đồng xu, 08 phỉnh nhựa; thu giữ của U số tiền 3.500.000 đồng, T3 5.500.000 đồng, H7 7.000.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Công an P1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Hạ U, Lê Văn H1, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1, Nguyễn Minh T3, Ngô Xuân P, Lê Thị Thanh H7 chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý.
Kết quả điều tra xác định: Bắt đầu từ ngày 18/9/2024, Vũ Hạ U, Lê Văn H1 chuẩn bị bài, dụng cụ phỉnh, đồng xu, hộp xí ngầu và thuê nhà số C đường L, Phường I, Quận A của bà Lâm Thị Ngọc D, để tổ chức đánh bạc bằng hình thức binh xập xám thắng thua bằng tiền. Để phục vụ việc đánh bạc, ăn uống và cảnh giới cho các con bạc, H1, U đã thuê Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn H4 làm nhiệm vụ chia bài cho các con bạc, thu tiền xâu, tiền công chia bài sau 04 chến, T, H4 được hưởng là 01 chi số tiền đánh bạc, tương đương 50.000 đồng đến 100.000 đồng, ngoài ra được người thắng bạc cho thêm; thuê Nguyễn Song Tiến B1 làm nhiệm vụ cảnh giới, kiểm soát người đánh bạc ra vào, phục vụ bưng cơm nước cho người đánh bạc, được trả công 400.000đ/ngày; thuê bà Bùi Thị Thanh L1 nấu cơm, trả công 250.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày. Uyên, H1 quy định thu tiền xâu mỗi con bạc là 01 chi/chến, tương đương 50.000 đồng đến 100.000 đồng, hết 04 chến sẽ đổi bài mới và thu tiền xâu. Để thuận tiện cho việc thanh toán tiền đánh bạc Uyên chuẩn bị đồng xu bằng kim loại, phỉnh nhựa để tính tiền, mỗi đồng xu tương đương giá trị 50.000 đồng; mỗi phỉnh nhựa tương đương giá trị 500.000 đồng. Khi bắt đầu chến sẽ phát đều đồng xu và phỉnh nhựa cho các con bạc, khi hết chến tính đồng xu, phỉnh để chung chi tiền thắng thua. Khoảng 18 giờ 30, ngày 25/9/2024, các bị cáo Nguyễn Minh T3, Ngô Xuân P, Lê Thị Thanh H7, Vũ Hạ U đánh bạc mỗi chến một người là 1.500.000 đồng, tổng số tiền 04 người/01 chến là 6.000.000 đồng; mỗi chi có mức cược là 50.000 đồng, khi có 01 trong 04 người thua hết số tiền 1.500.000 đồng thì kết thúc chến, đánh lại chến mới.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Hạ U khai nhận hành vi phạm tội như trên. Hàng ngày sòng bài tổ chức từ khoảng 15 giờ đến 22 giờ, mỗi ngày U và Hoàng thu được khoảng 4.000.000 đồng tiền xâu, sau khi trừ các chi phí mỗi người được khoảng 1.000.000 đồng. U không nói cho bà Bùi Thị Thanh L1 biết U, H1 tổ chức đánh bạc trên tầng 1 của căn nhà, không nói nấu ăn để phục vụ cho sòng bạc của U. Bà Bùi Thị Thanh L1 chỉ biết nấu ăn, dọn dẹp ở tầng trệt sau đó đi về. Ngày 25/9/2024, khi bắt đầu chơi đánh bạc Uyên có 1.500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để chơi đánh bạc. Quá trình chơi đánh bạc Uyên thắng 800.000 đồng; thu tiền xâu được 1.200.000 đồng. Uyên chưa trả tiền công chia bài cho T, Hóa khi bị Công an phát hiện thu giữ số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền U đã thu lợi bất chính được 6.000.000 đồng đã sử dụng cá nhân hết.
Lê Văn H1 khai nhận cùng với Vũ Hạ U tổ chức đánh bạc tại nhà 3 L, Phường I, Quận A như đã trên, phù hợp với lời khai của U. Khi thuê bà L1 nấu cơm, H1 chỉ nói nấu cơm cho khoảng 06 người ăn, không nói cho bà L1 biết việc tổ chức sòng bạc tại nhà số C L, Phường I, Quận A. H1 thu lợi bất chính được khoảng 6.000.000 đồng từ việc tổ chức đánh bạc, đã sử dụng vào việc cá nhân hết.
Nguyễn Văn H4 khai, bắt đầu từ ngày 19/9/2024 U thuê H4 đến nhà số C L, Phường I, Quận A chia bài cho các con bạc và thu tiền xâu đưa lại cho U, H1. Ngày 25/9/2024, H4 chưa được trả tiền công. Số tiền H4 thu lợi bất chính được khoảng 1.800.000 đồng. Bà Bùi Thị Thanh L1 chỉ nấu ăn ở dưới nhà không có trên tầng 1, H4 không nói cho bà L1 biết có việc đánh bạc tại nhà số C đường L, Phường 1, Quận A.
Nguyễn Ngọc T khai, bắt đầu từ ngày 19/9/2024 U thuê T đến nhà số C đường L, Phường I, Quận A chia bài cho các con bạc và thu tiền xâu đưa lại cho U, H1. Ngày 25/9/2024, T chưa được trả tiền công, từ lúc tham gia T thu lợi bất chính khoảng 2.400.000 đồng. Bà Bùi Thị Thanh L1 chỉ nấu ăn ở dưới nhà không có trên tầng 1, T không nói cho bà L1 biết có việc đánh bạc tại nhà số C L, Phường I, Quận A.
Nguyễn Song Tiến B1 khai, bắt đầu từ ngày 21/9/2024 U thuê B1 đến nhà số C L, Phường I, Quận A làm cảnh giới, kiểm soát người đánh bạc ra vào, phục vụ ăn uống được trả tiền công 400.000 đồng/ngày. Từ lúc tham gia thu lợi bất chính khoảng 1.200.000 đồng. Bà Bùi Thị Thanh L1 chỉ nấu ăn ở dưới nhà không có trên tầng 1, B1 không nói cho bà L1 biết có việc đánh bạc tại nhà số C L, Phường I, Quận A.
Nguyễn Minh T3 ngày 25/9/2024 mang theo 3.500.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc T3 chơi thắng được 2.000.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ số tiền 5.500.000 đồng. T3 tham gia đánh bạc từ ngày 18/9/2024 nhưng không nhớ đánh bạc cùng với ai.
Ngô Xuân P ngày 25/9/2024 mang theo 2.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc P thua hết 2.000.000 đồng. Đây là lần đầu P tham gia đánh bài tại sòng bài do U và H1 tổ chức.
Lê Thị Thanh H7, ngày 25/9/2024 mang theo 9.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Quá trình đánh bạc H7 thua 2.000.000 đồng. Khi bắt quả tang thu giữ số tiền 7.000.000 đồng. H7 tham gia đánh bạc từ ngày 21/9/2024 nhưng không nhớ đánh bạc cùng với ai.
Tổng số tiền các bị cáo Lê Thị Thanh H7, Nguyễn Minh T3, Ngô Xuân P, Vũ Hạ U sử dụng đánh bạc vào ngày 25/9/2024 là 16.000.000 đồng.
Bà Bùi Thị Thanh L1 khai ngày 20/9/2024 bà L1 được H1 thuê đến nhà số C đường L, Phường I, Quận A để nấu cơm và trả công cho bà L1 250.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày. Hàng ngày bà L1 đến nhà số C đường L, Phường I, Quận A nấu cơm trưa, chiều và dọn dẹp ở khu vực nhà bếp tại tầng trệt. Khi nấu cơm xong thì có người mang lên trên lầu và mang xuống. Bà L1 chỉ ở tầng trệt và không được đi lên trên các tầng lầu của căn nhà và không ai nói cho bà L1 biết U, H1 tổ chức đánh bạc tại nhà số C đường L, Phường I, Quận A. Bà L1 không biết được thuê nấu cơm phục vụ cho sòng bạc của H1 và U.
Ông Nguyễn Thanh T6 khai ngày 25/9/2025 anh T6 đi cùng H7 đến nhà số C đường L, Phường 1, Quận A, ông T6 không biết chơi bài binh xập xám, T6 ngồi xem, không tham gia đánh bạc.
Bà Lâm Thị Ngọc D khai, ngày 17/9/2024 bà D ký hợp đồng cho Vũ Hạ U thuê nhà số C L, Phường I, Quận A, để ở với giá thuê là 15.000.000 đồng/tháng. Bà D không biết U sử dụng nhà trên để tổ chức đánh bạc.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- 01 bộ bài tây 52 lá, 01 bộ dụng cụ đổ xí ngầu, 40 đồng xu bằng kim loại, 08 phỉnh nhựa và 16.000.000 đồng sử dụng đánh bạc (trong đó: Bị cáo U 3.500.000 đồng, bị cáo T3 5.500.000 đồng, Bị cáo H7 7.000.000 đồng).
- Thu giữ của Lê Văn H1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356712116663380 - là tài sản của bị cáo H1 sử dụng việc phạm tội; số tiền 1.500.000 đồng - không liên quan đến việc phạm tội.
- Thu giữ của Vũ Hạ U: 01 điện thoại Iphone X, số seri: F18WQ1Y6JCH - là tài sản của bị cáo U sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu giữ của Nguyễn Văn H4: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, IMEI: 352998097725716 - là tài sản của bị cáo H4 sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu giữ của Nguyễn Ngọc T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, IMEI: 353835082205883 là tài sản của bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội; Số tiền 1.000.000 đồng, không liên quan đến việc phạm tội.
- Thu giữ của Nguyễn Song Tiến B1: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu xanh đen, IMEI1: 354868100150244 là tài sản của bị cáo B1 sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70, IMEI1: 355915103480885 không liên quan đến việc phạm tội.
- Thu giữ của Nguyễn Minh T3: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEI:354633442454500 - là tài sản của bị cáo T3 sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu giữ của Ngô Xuân P: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus là tài sản của bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 là tài sản của bị cáo P không sử dụng vào việc phạm tội.
- Thu giữ của Lê Thị Thanh H7: 01 điện thoại di động hiệu Oppo reno 8 tài sản của bị cáo H7 sử dụng vào việc phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Thu giữ của Lê Văn H1: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 60AH-085.80, số khung: RLHJK0349PY045205, số máy: JK03E0758676; Kết quả giám định số khung, số máy không bị đục lại số. Kết quả xác minh xe trên do bà Phan Gia L2, địa chỉ: Tổ C Ngô Quyền xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Bà L2 khai chiếc xe trên do bà mua và sử dụng, ngày 25/09/2024 bị cáo Lê Văn H1, là chồng của bà L2 mượn sử dụng, việc H1 sử dụng xe trên đi tổ chức đánh bạc bà L2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà Phan Gia L2.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSQ10 ngày 10 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Vũ Hạ U về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d, khoản 1, Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Song Tiến B1 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d, khoản 1, Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Ngô Xuân P, Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đối với xã hội và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội có tổ chức, bị cáo H1 có thêm tình tiết tăng nặng tái phạm và nhân thân của các bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm d, khoản 1, Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, h, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo xử phạt bị cáo xử phạt: Vũ Hạ U từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội đánh bạc, bị cáo Lê Văn H1 từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù, các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Song Tiến B1 mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, Ngô Xuân P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, Nguyễn Minh T3 từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, Lê Thị Thanh H7 từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, phạt tiền bổ sung bị cáo U, H1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, miễn phạt tiền bổ sung các bị cáo còn lại và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của các bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo U, H7: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các bị cáo còn lại không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Lê Văn H1, Vũ Hạ U, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1 đã cùng nhau bàn bạc, phân công nhiệm vụ để tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Minh T3, Ngô Xuân P, Lê Thị Thanh H7, Vũ Hạ U đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài binh xập xám thì bị bắt quả tang, các bị cáo phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc. Do vậy các bị cáo Lê Văn H1, Vũ Hạ U, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1 bị truy tố và xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d, khoản 1, Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Ngô Xuân P, Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7, Vũ Hạ U đã có hành vi sát phạt ăn thua với nhau bằng tiền dưới hình thức bài binh xập xám. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 16.000.000 đồng. Do vậy các bị cáo Ngô Xuân P, Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7, Vũ Hạ U bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo gây ra.
Trong vụ án này các bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò khác nhau nên Hội đồng xét xử cần phân hóa trách nhiệm hình sự cho phù hợp, cụ thể như sau:
Đối với bị cáo Vũ Hạ U: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người tổ chức, chủ mưu cầm đầu, trực tiếp đứng ra tổ chức, thuê địa điểm, thuê người giúp sức chia bài, thu tiển xâu, gọi điện thoại rủ rê các con bạc tới sòng bạc để đánh bạc. Ngoài ra bị cáo còn trực tiếp sát phạt ăn thua cùng các con bạc nên bị cáo U phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo còn lại. Bị cáo phạm 02 tội nên Hội đồng xét xử cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội.
Đối với bị cáo Lê Văn H1: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người tổ chức, chủ mưu cầm đầu, trực tiếp đứng ra tổ chức, thuê người phục vụ, người canh gác. Bản thân bị cáo đang có tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức đánh bạc cao hơn so với bị cáo U và các bị cáo còn lại.
Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo U, bị cáo H1 thông qua việc chia bài và thu tiền xâu của các con bạc để đưa lại cho bị cáo U, bị cáo H1. Bản thân bị cáo có nhiều nhân thân không tốt nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo H1, bị cáo U nhưng cao hơn so với bị cáo H4, bị cáo B1.
Đối với bị cáo Nguyễn Song Tiến B1: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo U, bị cáo H1 thông qua việc cảnh giới, kiểm soát người ra vào. Bản thân bị cáo có nhân thân không tốt nhưng ít hơn bị cáo T nên bị cáo B1 phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo H4.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H4: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức cho bị cáo U, bị cáo H1 thông qua việc chia bài và thu tiền xâu của các con bạc để đưa lại cho bị cáo U, bị cáo H1. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên bị cáo chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn so với các bị cáo Lê Văn H1, Vũ Hạ U, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1.
Đối với bị cáo Ngô Xuân P: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành trực tiếp ăn thua, sát phạt với các bị cáo còn lại. Bị cáo sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Tuy nhiên bản thân bị cáo có nhân thân không tốt, rất nhiều lần phạm tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với các bị cáo còn lại
Đối với bị cáo Lê Thị Thanh H7: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành trực tiếp ăn thua, sát phạt với các bị cáo còn lại. Bị cáo sử dụng số tiền 9.000.000 đồng để đánh bạc. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo T3
Đối với bị cáo Nguyễn Minh T3: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành trực tiếp ăn thua, sát phạt với các bị cáo còn lại. Bị cáo sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Do vậy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Vũ Hạ U, Lê Văn H1 tổ chức đánh bạc để thu tiền xâu, các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Song Tiến B1, Ngô Xuân P có nhân thân không tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước. Các bị cáo còn lại có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Vũ Hạ U, Lê Văn H1, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Song Tiến B1 phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Lê Văn H1 có thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra các bị cáo Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bộ bài tây 52 lá, 01 bộ dụng cụ đổ xí ngầu, 40 đồng xu bằng kim loại, 08 phỉnh nhựa. Hội đồng xét xử xét thấy đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị nên Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.
Đối với số tiền 16.000.000 đồng sử dụng đánh bạc (trong đó: Bị cáo U 3.500.000 đồng, bị cáo T3 5.500.000 đồng, Bị cáo H7 7.000.000 đồng). Xét thấy đây là số tiển các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356712116663380 – thu giữ của bị cáo Lê Văn H1. 01 điện thoại Iphone X, số seri: F18WQ1Y6JCH – thu giữ của bị cáo Vũ Hạ U; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, IMEI: 352998097725716 – thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H4; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, IMEI: 353835082205883 – thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu xanh đen, IMEI1: 354868100150244- thu giữ của bị cáo Nguyễn Song Tiến B1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEI:354633442454500 – thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh T3; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus – thu giữ của bị cáo Ngô Xuân P; 01 điện thoại di động hiệu Oppo reno 8 - thu giữ của bị cáo Lê Thị Thanh H7. Xét thấy đây là tài sản mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Đối với số tiền 1.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn H1, số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc T, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70, IMEI1: 355915103480885 thu giữ của bị cáo Nguyễn Song Tiến B1; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 thu giữ của bị cáo Ngô Xuân P. Xét thấy đây là các tài sản không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trả lại cho các bị cáo nhưng cần kê biên để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đối với số tiền do tổ chức đánh bạc mà các bị cáo có được là 17.400.000 đồng {trong đó bị cáo U là 6.000.000 đồng, bị cáo H1 là 6.000.000 đồng, bị cáo H8 là 1.800.000 đồng, bị cáo T là số tiền 2.400.000, bị cáo B1 là 1.200.000 đồng}. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Các bị cáo U, H1, T, H4, B1 phải có trách nhiệm giao nộp lại.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1, Điều 321; điểm d, khoản 1, 3 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, khoản 1, Điều 52; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vũ Hạ U;
- - Căn cứ vào điểm d, khoản 1, 3 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, h khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Văn H1;
- - Căn cứ vào điểm d, khoản 1, 3 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn H4, Nguyễn Song Tiến B1;
- - Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Ngô Xuân P;
- - Căn cứ vào khoản 1, Điều 321; Điều 38; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7;
- - Căn cứ điểm khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Vũ Hạ U 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Song Tiến B1 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H7 11 (mười một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Ngô Xuân P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2024
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 08 (tám) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù bằng thời hạn tạm giữ tạm giam về tội “Đánh bạc”.
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo T3, nếu bị cáo T3 không bị tạm giam về một tội khác.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Hạ U 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước về tội tổ chức đánh bạc.
Miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung về tội đánh bạc đối với bị cáo Vũ Hạ U.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn H1 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Song Tiến B1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước
Phạt bổ sung bị cáo Ngô Xuân P 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước
Miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H4, Nguyễn Minh T3, Lê Thị Thanh H7.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 bộ bài tây 52 lá, 01 bộ dụng cụ đổ xí ngầu, 40 đồng xu bằng kim loại, 08 phỉnh nhựa.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng sử dụng đánh bạc (trong đó: Bị cáo U 3.500.000 đồng, bị cáo T3 5.500.000 đồng, Bị cáo H7 7.000.000 đồng).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 17.400.000 (mười bảy triệu bốn trăm nghìn) đồng {Trong đó bị cáo U là 6.000.000 đồng, bị cáo H1 là 6.000.000 đồng, bị cáo H4 là 1.800.000 đồng, bị cáo T là số tiền 2.400.000, bị cáo B1 là 1.200.000 đồng}. Các bị cáo U, H1, T, H4, B1 phải có trách nhiệm giao nộp lại.
Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước đối với đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xanh, số IMEI: 356712116663380. 01 điện thoại Iphone X, số seri: F18WQ1Y6JCH; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen, IMEI: 352998097725716; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, IMEI: 353835082205883; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A30 màu xanh đen, IMEI1: 354868100150244; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEI:354633442454500; 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus, Imei:359174077034304; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 082.
Kê biên biên để bảo đảm cho việc thi hành án số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn H1; Số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A70, IMEI1: 355915103480885 thu giữ của bị cáo Nguyễn Song Tiến B1; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy S9 thu giữ của bị cáo Ngô Xuân P. Trường hợp các bị cáo đã tự nguyện thi hành về hình phạt bổ sung, án phí, số tiền thu lợi bất chính thì trả lại các tài sản kê biên cho các bị cáo.
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/5/2025 giữa Công an Thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với các bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận: - Sở Tư pháp TP.HCM; (1) - TAND TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (1) - VKSND Q.10; (2) - Công an Q.10; (2) - Chi cục THADS Q.10; (1) - Người tham gia tố tụng; (21) - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5) |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Hạ Uyên và đồng phạm phạm tội Tổ chức đánh bạc, đánh bạc
