|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUÂN THUẬN HÓA THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quang Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tôn Thất Quý và bà Trần Thị Bích Thuỷ.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Long, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2025/TLST–HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Bá Q, sinh ngày 01/8/1989, tại thành phố H; căn cước công dân số [...], cấp tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; giới tính: Nam; nơi thường trú: TDP T, phường H, quận P, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; con ông Nguyễn Bá K, sinh năm: 1959 và bà Đoàn Thị S, sinh năm: 1973; vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; có 01 con sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
Có mặt
2. Phan Thanh B, sinh ngày 11/8/1997, tại thành phố H; giới tính: Nam; căn cước công dân số [...], cấp ngày 13/4/2021, tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1963; vợ Lê Thị Thùy T1, sinh năm 1993; có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
Có mặt.
3. Lê Đức H, sinh ngày 13/5/2004, tại thành phố H; giới tính: Nam; căn cước công dân số [...], cấp tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: Số D đường V, phường T, thị xã H, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1967 và bà Bùi Thị Kim C, sinh năm 1974; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
Có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Trần Nhật H2, sinh năm 1996; địa chỉ: Số A đường N, phường A, quận P, thành phố H; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình Nhật T2, sinh năm 1995; địa chỉ: Số B đường P, phường P, quận T, thành phố H; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 24/9/2024, Phan Thanh B, Nguyễn Bá Q, Lê Đức H cùng ăn nhậu tại quán “Quận A" tại đường V, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H). Đến khoảng hơn 22 giờ 00 cùng ngày, B, Q và Lê Đức H rủ nhau qua quán Bar D tại địa chỉ A đường L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay phường P thuộc quận T, thành phố H) để tiếp tục chơi. Sau đó, Q nói với anh Trần Nhật H2 là tài xế xe taxi chở cả nhóm đến quán Bar D. B mượn điện thoại của Trần Nhật H2 gọi cho người tên M quen biết ngoài xã hội (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ đặt bàn tại quán Bar D và được M báo lại đã đặt bàn D2 của quán Bar D. Khi đến quán Bar D, cả nhóm rủ anh Trần Nhật H2 vào ngồi chơi cho vui, đợi khi nào xong chở về thì anh Trần Nhật H2 đồng ý. Khi cả nhóm đi vào quán Bar D thì được nhân viên bố trí ngồi tại bàn D2. Vào nghe nhạc được một lúc thì Q và B rủ nhau mua ma túy để sử dụng, B góp cho Q số tiền 1.500.000 đồng, Q hỏi một nhân viên nữ ở trong quán BaD (không rõ nhân thân, lai lịch) “ở đây có bán đồ không” (tức là có bán ma túy không) thì người này chỉ cho Q đi ra trước sảnh, sau đó Q đi ra gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực sảnh của quán Bar D hỏi mua ma túy thì người này đồng ý bán và đi cùng Q vào bàn D2. Sau đó, nam thanh niên này đưa ra một gói ma túy dạng “khay” và ma túy dạng “kẹo” bỏ trên bàn D2.
Khi có ma túy, người thanh niên này bẻ ma túy kẹo thành nhiều mảnh để cả nhóm sử dụng và đưa cho B 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, Q đưa cho người thanh niên này số tiền 3.200.000 đồng trả tiền mua ma túy rồi người thanh niên này rời khỏi bàn. Tiếp đó, B đổ ma túy khay ra tờ tiền và dùng bật lửa cà mịn, Lê Đức H dùng bật lửa hơ nóng ly thủy tinh cho khô để đổ ma túy vào và dùng bật lửa hơ nóng tờ tiền chứa ma túy rồi để trên bàn, lúc này B đổ ma túy khay vào ly thủy tinh mà Lê Đức H đã hơ nóng. Sau khi xào chẻ xong, cả nhóm gồm Q, B và Lê Đức H cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 24/9/2024, khi Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H đang cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Công an thành phố Huế tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Thu giữ trên bàn D2 của quán Bar D (một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, 02 chai dầu phật linh. Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H khai nhận gói nilong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng là ma túy, dạng khay đang sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết thì bị phát hiện bắt quả tang.
Đối với Trần Nhật H2 ngay sau khi lập biên bản bắt quả tang xác định đối tượng này không có hành vi phạm tội hoặc giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật.
Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H đều có kết quả dương tính với chất ma túy. Trần Nhật H2 âm tính với chất ma túy.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01(một) gói nilong màu trắng viền đỏ bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng. (sau khi tạm giữ đã được niêm phong theo quy định)
- - 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
- - 02 chai dầu phật linh.
* Tại Bản kết luận giám định số 698/KL-KLHS ngày 30/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (nay là thành phố H), kết luận:
“Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1, phần II) có khối lượng là 0,6690g (không phẩy sáu sáu chín không gam), là ma túy, loại Ketamine.”
Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ, gồm:
+ 0,5690g (không phẩy năm sáu chín không gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định;
+ Các vật liệu dùng để báo gói, niêm phong khi gửi giám định.
Tất cả được niêm phong kín bằng túi niêm phong và băng keo, bên ngoài có 02 (hai) chữ ký của Giám định viên Trần N, 02 (hai) chữ ký của điều tra viên Trần Đình T3, 02 (hai) dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H3 mẫu vật vụ Nguyễn Bá Q và 03 người khác, bắt ngày 24/9/2024".
* Về xử lý vật chứng: Các vật chứng nêu trên hiện đang tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSTH ngày 16 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa truy tố các bị cáo Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B và Lê Đức H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo H áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Nguyễn Bá Q từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
- Lê Đức H từ 7 năm đến 7 năm 2 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024;
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Thanh B từ 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 chai dầu phật linh và số ma túy còn lại đã qua giám định cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.
- + Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
- - Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến, khiếu nại gì, nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại bàn D2 quán Bar D, Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H đang có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ khối lượng ma túy còn lại mà các đối tượng chưa kịp sử dụng hết là 0,6690g (không phẩy sáu sáu chín không gam) ma túy, loại Ketamine. Do đó, Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nên các bị cáo phải chịu hậu quả chung. Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý “Đối với 02 người trở lên”, nên các bị cáo Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B, Lê Đức H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và góp phần làm phát sinh các vi phạm pháp luật khác.
Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo thống nhất cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Nguyễn Bá Q là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, góp tiền mua ma túy nên phải chịu trách nhiệm chính; bị cáo Phan Thanh B cùng góp tiền mua ma túy, xào chẻ ma túy nên phải chịu trách nhiệm với vai trò là người thực hành tích cực; bị cáo Lê Đức H chuẩn bị công cụ, dụng cụ, hơ nóng ma túy để cùng nhau sử dụng nên phải chịu trách nhiệm với vai trò là người thực hành.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nhận ra lỗi lầm của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo H có công với cách mạng, nên bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Phan Thanh B, quá trình công tác có thành tích xuất sắc đã được Tư lệnh quân khu 4 tặng bằng khen vào năm 2022 và được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở vào các năm 2018 và 2021. Tại điểm b mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2000 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn “Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua, ....”. Xét, bị cáo Phan Thanh B là người có thành tích xuất sắc trong công tác, đã được tặng thưởng bằng khen và nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua cơ sở, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Phan Thanh B có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, quy mô tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý không lớn, nên việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh B dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại đã qua giám định là chất độc hại cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy cùng các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định và 02 chai dầu phật linh.
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào Ngân sách Nhà nước;
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B và Lê Đức H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo Lê Đức H áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Q 7 năm 3 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Đức H 7 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh B 4 năm 6 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 Túi niêm phong kín bằng giấy màu trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 02 chữ ký của Điều tra viên Trần Đình T3, 02 dấu tròn đỏ của phòng K1 Công an tỉnh T và dòng chữ “H3 mẫu vật vụ Nguyễn Bá Q và 03 người khác, bắt ngày 24/9/2024".
- + 02 chai dầu phật linh.
- - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
Các vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/6/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hóa.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc các bị cáo Nguyễn Bá Q, Phan Thanh B và Lê Đức H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
5. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Quang Bình |
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo bị tuyên phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
