|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày 10 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Ông Phạm Ngọc Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Phượng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn N; sinh năm 2000 tại xã G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 9/12; số CCCD: [...], nơi cấp: Cục C2 - BCA; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Phạm Văn C và bà Vũ Thị N1; gia đình có 5 chị em, bị cáo là con thứ năm, chưa có vợ con; tiền án: ngày 15/6/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình) xử phạt Phạm Văn N 02 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/10/2024 (chưa được xoá án tích); tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 04/9/2025 đến ngày 07/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N (có mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2002; anh Cao Văn Q, sinh năm 1995; anh Cao Văn K, sinh năm 2003; anh Ngô Chí H, sinh năm 2002; anh Lại Ngọc T, sinh năm 2002; anh Lưu Công C1, sinh năm 2001; anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2009; anh Bùi Minh P, sinh năm 2009; anh Phạm Văn Q1, sinh năm 1996;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 09/02/2025, sau khi ăn uống xong tại nhà Nguyễn Văn D, sinh năm 2002; trú tại: xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình). Phạm Văn Q1, sinh năm 1996, trú tại: xóm A, xã G, huyện G đã rủ Cao Văn K, sinh năm 2003; Ngô Chí H, sinh năm 2002; Lại Ngọc T, sinh năm 2002; Lưu Công C1, sinh năm 2001; Phạm Văn N, sinh năm 2000; Nguyễn Văn D, sinh năm 2009; Bùi Minh P, sinh năm 2009 đều trú tại huyện G, tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình) và một số người khác đi hát tại quán K1, địa chỉ: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) thì tất cả đồng ý. Trong quá trình hát tại phòng VIP 4, K liên tục bấm bài chen ngang những người khác, Q1 nhắc nhở nhưng K không nghe. Q1 đã dùng cốc uống bia bằng thủy tinh đập 01 phát vào vùng chỏm đầu của K gây ra vết tấy đỏ da cơ. Sau đó, được mọi người can ngăn, hai bên không xảy ra xô xát nữa. K bỏ ra khỏi phòng hát gọi điện qua ứng dụng Messenger cho chú là Cao Văn Q, sinh năm 1995, cùng trú tại: xã G, tỉnh Ninh Bình kể lại sự việc và nhờ Q đến hỗ trợ giải quyết mâu thuẫn với mục đích yêu cầu anh Q1 phải xin lỗi mình. Lúc này, Q đang ngồi sau xe máy của bạn là anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1997, thường trú tại: thành phố Hà Nội điều khiển. Q bảo anh T1 điều khiển xe máy chở Q về xã G, tỉnh Ninh Bình có việc nhưng không nói cho anh T1 rõ đi đâu, làm gì. Khi đi đến khu vực ngã tư chợ V thuộc xã G, tỉnh Ninh Bình, Q bảo anh T1 dừng xe để Q gọi điện cho K ra dẫn đường. Trong thời gian chờ K ra đón, Q nảy sinh ý định mua dao làm hung khí chém gây thương tích cho người nào đánh K, do vậy Q bảo anh T1 chở đến quán tạp hóa của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974, trú tại: xóm E, xã G, huyện G rồi một mình đi vào trong quán mua 01 con dao (dạng dao rựa, chiều dài 41cm, nắm dao bằng kim loại dài 11cm, lưỡi dao có 1 cạnh sắc, bản rộng nhất 7cm, sống dao dày 0,5cm, đầu bằng) với giá 100.000 đồng, cất giấu vào trong áo khoác rồi quay lại. K đi đến, Q ngồi lên xe do anh T1 điều khiển đi theo K đến quán Karaoke Hương Đ. Khoảng 16 giờ 45 phút, K, Q và T1 đến trước cửa quán K1, K dẫn Q đi vào phòng VIP 4. Khi vào trong phòng, Q hỏi: “Thằng nào đánh cháu tao?”. Anh Q1 trả lời: “Tao đánh cháu mày đấy”. Q liền tiến đến đứng đối diện, cách anh Q1 khoảng 1m, rút con dao từ trong áo khoác, cầm trên tay phải chém 4 - 5 nhát trúng người anh Q1 gây thương tích. Thấy anh Q1 bị chém, K, C1, T, N, H lao vào can ngăn giữ Q lại; sau đó chủ quán Karaoke là anh Phạm Văn T3, sinh năm 1974, trú tại: xóm E, xã G, tỉnh Ninh Bình đã chạy đến giật dao từ tay Q đem cất đi. Q bị anh Q1 và H đẩy ra khỏi phòng hát, đến khu vực trước cửa quán thuộc đường dong xã G, Q bị ngã ra đường, Q1 nằm đè lên người Quân. Lại Ngọc T, Lưu Công C1 dùng chân tay, mũ bảo hiểm; Ngô Chí H dùng chân tay, cầm nạng bằng hợp kim; Nguyễn Văn D sử dụng chân, tay đánh Cao Văn Q; Phạm Văn N đi đến đạp 01 phát vào người Q. Quá trình đánh nhau, Ngô Chí H, Lại Ngọc T, Lưu Công C1, Phạm Văn N, Nguyễn Văn D đều có hành vi chửi bới, hô hoán gây mất an ninh trật tự. Sau khi mọi người can ngăn, cả nhóm không đánh Q nữa và đưa anh Q1 đến Trung tâm y tế huyện G để sơ cứu vết thương rồi đến Bệnh viện B, thành phố Hà Nội để cấp cứu. K cùng anh T1 cũng đưa Q đến phòng khám tư nhân tại xã G để sơ cứu rồi đến Bệnh viện B, thành phố Hà Nội điều trị.
Hậu quả: Cao Văn Q bị 01 vết thương dưới chỏm phải, rách da cơ đã được khâu 02 mũi; phía dưới lông mày phải bị rách da cơ; vùng trán bị sưng phù nề; vùng thái dương phải bị sưng phù nề; vùng cùi trỏ tay phải có vết thương rách da cơ; vùng thái dương trái bị sưng phù nề. Quá trình điều tra, Cao Văn Q có đơn từ chối giám định thương tích. Phạm Văn Q1 bị thương tích rách da cẳng tay trái, rách da vùng mặt, vùng ngực, hai bên liên sườn.
Kết quả giám định: Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 26/KLTTCT- TTGĐYK&PY ngày 19/02/2025 của Trung tâm pháp y sở Y kết luận “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn Q1 tại thời điểm giám định là 8%. Tổn thương khác và di chứng khi Phạm Văn Q1 điều trị ổn định ra viện, sẽ giám định bổ sung”. Ngày 31/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) đã trưng cầu giám định bổ sung đối với tổn thương trên cơ thể anh Phạm Văn Q1. Tại bản kết luận giám định số 255/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 17/4/2025 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y Sở y tế tỉnh Y kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Văn Q1 là 41%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc trực tiếp tác động gây nên”.
Ngày 19/02/2025, Cơ quan điều tra - Công an huyện G đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Khởi tố bị can đối với Cao Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 tỉnh Ninh Bình) đưa ra xét xử. Ngày 17/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) đã trưng cầu giám định dữ liệu điện tử đối với 04 đoạn video thu được tại quán K1. Tại bản kết luận số 555 ngày 28/3/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N: “Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh”. Ngày 24/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) đã trưng cầu giám định vũ khí đối với con dao do Cao Văn Q sử dụng gây thương tích cho anh Phạm Văn Q1. Tại bản kết luận số 744 ngày 05/05/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh N (nay là Phòng K2 Công an tỉnh N) kết luận: “Con dao gửi giám định là dao sắc, thuộc Phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao”, thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C3.
Ngày 28/5/2025, của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Cao Văn Q về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự; Ngày 16/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Chí H, Lại Ngọc T, Lưu Công C1, Phạm Văn N, Nguyễn Văn D về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Ngày 19/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N) ban hành KLĐT số 196/KLĐT-CSHS đề nghị truy tố đối với Cao Văn Q về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; Ngô Chí H, Lưu Công C1, Lại Ngọc T về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn D về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đối với Phạm Văn N, Cơ quan CSĐT đã tiến hành triệu tập làm việc nhưng N không lên làm việc, tiến hành xác minh tại gia đình và địa phương nhưng không có thông tin gì. Để đảm bảo hoàn thành sớm việc điều tra với các loại tội phạm và việc tách hành vi phạm tội của Phạm Văn N không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra quyết định tách vụ án hình sự liên quan đến hành vi của Phạm Văn N.
Ngày 28/8/2025, do thời hạn điều tra đã hết, chưa truy bắt được Phạm Văn N, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can Phạm Văn N.
Ngày 04/9/2025, Phạm Văn N đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 06/9/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra đối với bị can Phạm Văn N.
* Về xử lý vật chứng: Các vật chứng của vụ án đã được xử lý theo quyết định của Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 14/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
Tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKSND-P2 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình truy tố: Phạm Văn N về tội “Gây rối trật tự công cộng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Văn N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố là đúng, không bị oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm h khoản 1, Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phạm Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/9/2025.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà; Bản kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 09/02/2025, do mâu thuẫn trong lúc hát tại quán Karaoke Hương Đ ở xã G, tỉnh Ninh Bình, Phạm Văn N cùng nhóm bạn của mình đuổi đánh Cao Văn Q từ quán Karaoke ra khu vực đường L là nơi công cộng. Trong lúc đánh nhau, N và các đối tượng hô hoán, chửi bới, gây náo loạn khu vực trước cửa quán K1, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi nêu trên của Phạm Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm Văn N đã bị kết án về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Phạm Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Phạm Văn N có hành vi đánh nhau gây mất trật tự, ảnh hưởng đến hoạt động của quán Karaoke là một địa điểm công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn rất nhỏ nhặt, khi thấy nhóm bạn đi cùng mình đuổi đánh Cao Văn Q từ quán Karaoke ra khu vực đường L, bị cáo đã không can ngăn lại còn có những hành vi gây lộn xộn ảnh hưởng đến trật tự chung; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, tuy nhiên đến ngày 04/9/2025, bị cáo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm; cần ấn định cho bị cáo một mức hình phạt ở trong khung hình phạt đã truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Như vậy mới tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên toà.
[5] Về án phí: Bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/9/2025.
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thảo |
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ăn cứ khoản 1 Điều 318; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/9/2025. 2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 3. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
