|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 99/2025/HS-ST Ngày: 04-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Chiến
- Ông Nguyễn Đức Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Duy Tuyên- Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2025/TLST- HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Lưu Văn H, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Bản Mùi Phú, xã Kiên Thành, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang; Nơi tạm trú: Tổ dân phố Vân Cốc 2, phường Vân Trung, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Lưu Ngọc Sơn; Con bà: Vương Thị Lương; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Bản án số 67 ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Lưu Văn H 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022; Bản án số 113 ngày 20/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Lưu Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản chiếm đoạt là 300.000 đồng), H chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 13/4/2023;
Nhân thân: Ngày 04/11/2014, H bị Công an xã Trù Hựu, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp tiền phạt ngày 04/11/2014; Bản án số 07 ngày 04/02/2015 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Lưu Văn H 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, H chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2016, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/4/2015.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
* Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972 (có mặt)
- Chị Trần Thị Như Q, sinh năm 2000 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố Hữu Nghi, phường Ninh Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Hữu Nghi, phường Ninh Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Văn P, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Anh Lưu Văn T, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Lương Khoai, xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn Bản Mùi Phú, xã Kiên Thành, thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lưu Văn H là người sử dụng ma túy, đang có tiền án, không có việc làm ổn định. Để có tiền chi tiêu, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác. Khoảng 05 giờ ngày 12/02/2025, Lưu Văn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển số 98E1-828.91 (xe mượn của anh ruột là Lưu Văn T, sinh năm 1992, ở cùng nhà), đến Bệnh viện TNH, địa chỉ ở tổ dân phố Dục Quang, phường Bích Động, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, mục đích để tìm cách trộm cắp tài sản của người bệnh để sơ hở. H để xe mô tô ở rìa đường cạnh cổng Bệnh viện TNH rồi đi bộ vào trong Bệnh viện. H đi theo lối cầu thang lên tầng 3 Bệnh viện, thấy cánh cửa phòng bệnh nhân số 329 không chốt khóa, đang mở. H mở cửa đi vào trong phòng bệnh thấy bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972 và con gái là chị Trần Thị Như Q, sinh năm 2000, đều trú tại tổ dân phố Hữu Nghi, phường Ninh Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đang ngủ cùng nhau trên giường bệnh nhân; trên mặt tủ nhựa đề đồ cạnh đầu giường có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax-64GB, màu đen, trong lắp 01 sim là tài sản của bà N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax-256GB, màu tím, trong lắp 01 sim, vỏ ốp điện thoại bằng nhựa là tài sản của chị Q. H đi đến cạnh tủ đồ, thấy bà N, chị Q không phát hiện có người vào, vẫn nằm ngủ, H dùng tay phải lấy trộm hai chiếc điện thoại di động nêu trên của bà N, chị Q đút vào túi quần đang mặc rồi đi ra khỏi Bệnh viện, lấy xe mô tô điều khiển bỏ đi. Trên đường điều khiển xe mô tô bỏ đi, H dừng xe bỏ điện thoại trộm cắp ra kiểm tra mở khóa màn hình. H nhập mật khẩu ngẫu nhiên gồm số “000000” thì mở được khoá điện thoại di động Iphone 11 Promax của bà N, còn điện thoại Iphone 14 Promax của chị Q không mở được màn hình. H tháo thẻ sim của hai điện thoại và vỏ ốp điện thoại Iphone 14 Promax trộm cắp được vứt đi.
Khoảng 08 giờ cùng ngày 12/02/2025, H điều khiển xe mô tô biển số 98E1-828.91 đến cửa hàng điện thoại Fox Mobile, ở tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, bán cho anh Đỗ Văn P, sinh năm 1991, trú tại thôn Lương Khoai, xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là chủ cửa hàng chiếc điện thoại Iphone 14 Promax đã trộm cắp với số tiền 4.000.000 đồng và nói dối là tài sản của H. Sau đó, H giữ lại điện thoại Iphone 11 Promax trộm cắp của bà N để tự sử dụng hằng ngày. Khoảng 02 ngày sau, anh P đã bán lại điện thoại Iphone 14 Promax mua từ H cho một người khách không biết họ tên, địa chỉ.
Ngày 15/02/2025, bà N, chị Q đã trình báo Công an phường Bích Động về việc bị trộm cắp hai chiếc điện thoại di động nêu trên khi để tại phòng bệnh nhân số 329 tầng 3 Bệnh viện TNH vào ngày 12/02/2025. Sau đó, Công an phường Bích Động đã chuyển đơn trình báo của bị hại cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 24/02/2025, biết hành vi phạm tội bị phát hiện, Lưu Văn H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax-64GB, màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, biển số 98E1-828.91. Cơ quan điều tra, sử dụng que test tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma tuý của H, kết quả dương tính với chất ma tuý Heroine.
Ngày 24/02/2025, Cơ quan điều tra cho Lưu Văn H chỉ vị trí trộm cắp tài sản và bán tài sản trộm cắp. Kết quả, H xác định, chỉ được nơi H trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động tại mặt tủ để đồ trong phòng bệnh nhân số 329 Bệnh viện TNH; chỉ vị trí bán điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax trộm cắp tại cửa hàng Fox Mobile thuộc tổ dân phố Ninh Khánh, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Cơ quan điều tra đã thu giữ được tại camera an ninh Bệnh viện TNH hình ảnh video ghi lại sự việc ngày 12/02/2025 H vào Bệnh viện mở cửa phòng bệnh nhân số 329 rồi đi vào bên trong trộm cắp tài sản.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax do H giao nộp, kết quả: mật khẩu màn hình mở điện thoại trùng với mật khẩu bà N cung cấp.
Tại Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 26/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên đã định giá và kết luận tổng trị giá tài sản H trộm cắp ngày 12/02/2025 là 25.090.000 đồng, trong đó: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax-64 GB, màu đen, trị giá 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax- màu tím, dung lượng 256GB trị giá 18.000.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa trị giá 30.000 đồng, 02 phôi sim điện thoại trị giá 60.000 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra, H còn khai nhận: Sáng ngày 23/02/2025, bị cáo một mình đi đến khu vực gầm cầu thuộc tổ dân phố Đạo Ngạn 2, phường Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang mua của một người không biết họ tên, địa chỉ, không nhìn được mặt 01 gói ma túy Heroine rồi tự sử dụng hết tại bãi rác thải cạnh đó. Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, đề cập xử lý người bán ma tuý cho H. Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H đã bị Công an tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 13/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Lưu Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn H từ 02 năm tù đến 02 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2025.
- Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự;
- Buộc bị cáo Lưu Văn H phải bồi thường cho chị Trần Thị Như Q số tiền 18.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Tại cơ quan điều tra, truy tố bị cáo H thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
* Bị hại bà Nguyễn Thị N có mặt trình bày: Về hình phạt đối với bị cáo bà đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về bồi thường: Bà đã nhận lại chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp, bà không có yêu cầu bồi thường gì.
* Bị hại chị Trần Thị Như Q có mặt trình bày: Về hình phạt đối với bị cáo chị đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về bồi thường: Chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị 18.000.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại của chị bị cáo trộm cắp không thu hồi được. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh P, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại Điều 292; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo H tại tại phiên tòa phù hợp với với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ ngày 12/02/2025 tại phòng bệnh nhân số 329 tầng 3 Bệnh viện TNH, địa chỉ tại tổ dân phố Dục Quang, phường Bích Động, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, lợi dụng cửa phòng không khoá, người trong phòng đang ngủ. Bị cáo Lưu Văn H đã lén lút trộm cắp được trên mặt tủ để đồ 02 điện thoại di động, trong đó của bà Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax-64GB, màu đen, trị giá 7.000.000 đồng, bên trong lắp 01 thẻ sim (phôi sim) trị giá 30.000 đồng; của chị Trần Thị Như Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax-256GB, màu tím, trị giá 18.000.000 đồng, lắp 01 vỏ ốp lưng bằng nhựa trị giá 30.000 đồng, 01 thẻ sim (phôi sim) trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản H trộm cắp được của hai bị hại là 25.090.000 đồng. Sau đó, H đã bán lại điện thoại Iphone 14 Promax trộm cắp cho người khác lấy 4.000.000 đồng, giữa lại điện thoại Iphone 11 Promax trộm cắp để tự sử dụng rồi giao nộp cho Cơ quan điều tra khi đầu thú.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản của các bị hại, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp lại một phần tài sản trộm cắp để khắc phục hậu quả và đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định.
[6] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo H có nhân thân xấu năm 2014 đã từng bị xử phạt hành chính; năm 2015 từng bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản”, năm 2020 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2022 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang có tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và xét xử về các tội sở hữu tài sản, phạm tội lỗi cố ý, tính chất tội phạm trộm cắp tài sản ngày càng gia tăng trên địa bàn Việt Yên nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Xét mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo H là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, xét thấy bị cáo nghề nghiệp tự do, không có tài sản riêng, là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
- Đối với bà Nguyễn Thị N quá trình điều tra đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa có mặt không yêu cầu bồi thường gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với chị Trần Thị Như Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 18.000.000 đồng là trị giá điện thoại bị trộm cắp theo kết quả định giá, hiện bị cáo chưa bồi thường dân sự cho chị Q. Tại phiên tòa chị Q có mặt yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên, bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Q. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Q số tiền 18.000.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với sim điệm thoại, vỏ ốp điện thoại, bị cáo khai không nhớ chỗ vứt sim điện thoại, vỏ ốp điện thoại, đồng thời không xác định được người mua điện thoại Iphone 14 Promax sau khi anh P bán lại nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
- - Đối với: 01 điện thoại Iphone 11 Promax cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị N; 01 xe mô tô biển số 98E1-828.91 cơ quan điều tra đã trả cho anh Nguyễn Văn T.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh, số Imei 1: 351137777261483, số Imei 2: 352652687261489 là tài sản của bị cáo không sử dụng phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2025.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Lưu Văn H phải bồi thường cho chị Trần Thị Như Q số tiền 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
[3] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo H: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A25 5G, màu xanh, số Imei 1: 351137777261483, số Imei 2: 352652687261489 lắp sim số 0343127675 được niêm phong nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Lưu Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo; Bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vân |
Bản án số 99/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 99/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H phạm tội TCTS
