Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2025/HNGĐ-ST

Ngày 14/3/2025

V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và ông Hồ Bá Võ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 598/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Hữu Q, sinh năm 1996; nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc tại: Singapore; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2024 và bản tự khai, chị Lê Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Trần Hữu Q tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/01/2021. Trong quá trình chung sống, có nhiều bất đồng quan điểm, không thể giải quyết được. Sau khi sinh con đến nay, chị N và các con đã về ngoại sinh sống. Mặc dù vợ chồng chị đã cố gắng hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng nhiều, đời sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt và lâm vào tình trạng bế tắc trầm trọng. Vào ngày 09/10/2024, anh Q đi xuất khẩu lao động ở nước Singapore. Chị không thể liên lạc được với anh Q. Đến nay chị và anh Q đã không còn tình cảm với nhau. Chị thấy rằng mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Hữu Q.

Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Trần Hữu Q có 02 người con chung Trần Hữu Hùng C, sinh ngày 13/6/2022 và Trần Hữu Quốc C1, sinh ngày 13/6/2022. Hai con chung hiện đang ở với chị N, nếu ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Trần Hữu Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía anh Trần Hữu Q: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Trần Hữu Q có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho anh Trần Hữu Q thông qua Trần Hữu Q1 và bà Nguyễn Thị T là bố, mẹ của anh Trần Hữu Q; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Trần Hữu Q vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của ông Q1 thì anh Q hiện đang đi làm ăn ở Singapore, có điện thoại về cho gia đình nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh Q ở đâu và anh Q cũng biết việc chị N làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh Q không đồng ý ly hôn.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 5528/QLXNC-Đ1 ngày 25/12/2024 của Phòng Q2 – Công an tỉnh N: Anh Trần Hữu Q, sinh ngày 22/10/1996 đã xuất cảnh ngày 22/10/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Lê Thị N, cho chị N được ly hôn anh Trần Hữu Q; giao 02 con chung của chị N và anh Q cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Trần Hữu Q trước khi đi nước ngoài có địa chỉ tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; hiện đang sinh sống Singapore. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án anh Trần Hữu Q vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh Q thông qua người thân là bố, mẹ của anh Q. Bố, mẹ anh Q là ông Trần Hữu Q1 và bà Nguyễn Thị T cho biết anh Q đang đi xuất khẩu lao động tại Singapore, nhưng anh Q không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho ông, bà nên ông, bà không có địa chỉ của anh Q cung cấp cho Tòa án. Nhưng ông, bà đã thông báo cho anh Q biết việc chị N làm đơn ly hôn tại Tòa án, anh Q cũng không đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Cục Q3, anh Trần Hữu Q có thông tin xuất nhập cảnh ngày 22/10/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[3] Về nội dung:

[3.1.] Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Lê Thị N và anh Trần Hữu Q kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/01/2021. Hôn nhân giữa chị N và anh Q là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống, có nhiều bất đồng về quan điểm không thể giải quyết được. Sau khi sinh con đến nay, chị N và các con đã về ngoại sinh sống. Ngày 09/10/2024, anh Q đi xuất khẩu lao động ở nước Singapore. Chị N và anh Q không còn liên lạc với nhau nữa. Đến nay chị N và anh Q đã không còn tình cảm với nhau. Khi biết chị N xin ly hôn tại Tòa án, theo trình bày của ông Trần Hữu Q1 thì anh Q không đồng ý, nhưng cũng không gửi văn bản phản hồi ý kiến đến Tòa án. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Lê Thị N và anh Trần Hữu Q không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Thị N cho chị N được ly hôn anh Trần Hữu Q.

[3.2.] Về con chung: Chị Lê Thị N và anh Trần Hữu Q có 02 con chung tên Trần Hữu Hùng C, sinh ngày 13/6/2022 và Trần Hữu Quốc C1, sinh ngày 13/6/2022, hiện hai con chung đang do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, giáo dục con chung, nên cần giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định cho các đương sự.

[3.3] Tài sản chung, nợ: Chị Lê Thị N chưa yêu cầu giải quyết và anh Trần Hữu Q cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[4]. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc.

  1. Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Trần Hữu Q.
  2. Con chung: Giao hai con chung Trần Hữu Hùng C, sinh ngày 13/6/2022 và Trần Hữu Quốc C1, sinh ngày 13/6/2022 cho chị Lê Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Trần Hữu Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu, anh Trần Hữu Q chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

  1. Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013592 ngày 03/12/2024.
  2. Quyền kháng cáo:

4.1. Chị Lê Thị N vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4.2. Anh Trần Hữu Q đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Thanh Đức, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 99/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Ng và Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger