Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/12/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Thư ký TAND khu vực 3 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên Tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

• Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng N, sinh năm 1999. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: TDP H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Xin vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Phan Thị Hồng N: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1989, luật sư Văn phòng L, đoàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: Số A đường N, TDP D, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

Bị đơn: Anh Ngô Đức H, sinh năm 1992. Nơi ĐKTT: Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: TDP H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Hồng N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn với anh Ngô Đức H tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh) vào ngày 18/3/2022. Sau khi kết hôn được một thời gian ngắn, đến cuối năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H có con chung là cháu Ngô Phan Đan N1, sinh ngày 25/8/2022. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc con chung, việc cấp dưỡng nuôi con do chị N, anh H tự thỏa thuận với nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Hồng N trình bày vợ chồng không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, bị đơn anh Ngô Đức H trình bày:

Các nội dung mà chị Phan Thị Hồng N trình bày về quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng thực tế. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được và đã ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay nên anh H đồng ý ly hôn với chị N

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Từ tháng 4/2025 đến nay anh H là người trực tiếp chăm sóc cháu N1 do chị N đi làm ăn xa nhà nên anh H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc cháu N1, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ngô Đức H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho chị Phan Thị Hồng N đề nghị HĐXX công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh H; giao con chung Ngô Phan Đan N1 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, Khoản 1, 2 Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 3, khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 18, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung cháu Ngô Phan Đan N1, Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 25/8/2022 cho anh Ngô Đức H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Phan Thị Hồng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Anh Ngô Đức H không yêu cầu chị Phan Thị Hồng N cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị Phan Thị Hồng N phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000148 ngày 07/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3. Đề nghị trả lại cho chị Phan Thị Hồng N 225.000 đồng. Anh Ngô Đức H phải nộp 75.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị Hồng N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Ngô Đức H. Anh Ngô Đức H đăng ký thường trú tại TDP H, xã C, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điều 4 Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Phan Thị Hồng N yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Đức H và yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn do đó xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3]. Về việc vắng mặt đương sự: Chị Phan Thị Hồng N có đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên Tòa nên vụ án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 điều 207, khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H đăng ký kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân thị trấn N (nay là xã C), tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 18/3/2022 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Sau khi kết hôn một thời gian, chị N và anh H phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân. Vợ chồng đã không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ nhau, cuộc sống chung, quan hệ hôn nhân thực tế đã không tồn tại trong một thời gian dài. Chị N xin vắng mặt trong quá trình gải quyết vụ án, anh H đồng ý ly hôn với chị N. Do đó có căn cứ để khẳng định tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh H là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H có con chung là Ngô Phan Đan N1, sinh ngày 25/8/2022. Chị N và anh H đều có có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc con chung sau ly hôn và không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện tại anh H đang trực tiếp chăm sóc cháu N1, thu nhập bình quân mỗi tháng 15.000.000 đồng, cháu N1 được chăm sóc đầy đủ điều kiện về chỗ ăn ở, cơ sở vật chất, học tập. Quá trình giải quyết vụ án, chị N có đơn xin vắng mặt các buổi làm việc với Tòa án vì điều kiện công việc đi làm ăn xa, chị N không cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập để đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1. Do đó cần giao cháu N1 cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu N1, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ năm 2014. Anh H có đủ thu nhập để nuôi cháu N1 và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con nên chị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung, nợ chung trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo. Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

[5]. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy ý kiến của Viện Kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 207; khoản 1 điều 227; điều 271; khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều 51; điều 55; điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo. Khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phan Thị Hồng N và anh Ngô Đức H.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Ngô Phan Đan N1, sinh ngày 25/8/2022 cho anh Ngô Đức H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi người trực tiếp nuôi con. Chị Phan Thị Hồng N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét trong vụ án này, nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Chị Phan Thị Hồng N phải chịu 75.000 đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 00 00148 ngày 07/10/2025 của thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Trả lại cho chị Phan Thị Hồng N số tiền nộp thừa là 225.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tại thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Anh Ngô Đức H phải chịu 75.000 đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Ngô Đức H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Phan Thị Hồng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND KV3 – Hà Tĩnh;
  • - THADS KV3 – Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Nguyên đơn; bị đơn
  • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn;
  • - Lưu: HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phan Anh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 99/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Phan Thị Hồng Nhung và anh Ngô Đức Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger