TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2025/HNGĐ-ST Ngày 06-6-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Kiệt.
Bà Cao Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 583/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn AnhTh, sinh năm 2001 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ : Ấp Gi, Xã T, Huyện M, Bến Tre.
Địa chỉ liên hệ: Đường M, Ấp Ph, xã Ph, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Ông Dương Nhất V, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: Đường M, Ấp Ph, xã Ph, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ làm việc: Số M Tổ C, ấp b, Tr, TP M, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị AnhTh trình bày:
Chị và anh V cưới nhau theo lễ cưới truyền thống và sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/11/2020, theo giấy chứng nhận kết hôn số 74. Lúc đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống do tính tình không phù hợp, đã ly thân từ hơn 02 năm. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, hôn nhân không thể kéo dài nên chị xin ly hôn.
Nay yêu cầu:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Dương Nhất V.
- Về con chung: Có 01 con chung, tên Dương Tuệ M, sinh ngày 27/10/2019, giới tính nữ, hiện con đang sống chung anh V. Yêu cầu giao con cho anh V trực tiếp nuôi, chị tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Dương Nhất V: Không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Thị AnhTh xin vắng mặt. Anh Dương Nhất V vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều thực hiện đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng sự triệu tập của Toà án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị AnhTh là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị AnhTh và anh Dương Nhất V hôn nhân có thực hiện đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn đúng qui định. Ngày 25/10/2024 chị Th khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh V, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
[1.2] Sự có mặt của đương sự: Bị đơn Dương Nhất V đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về chứng cứ chứng minh: Xét thấy, anh Dương Nhất V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến gì về các chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị AnhTh. Nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn, mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các chứng cứ Tòa án thu thập và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết.
[2.2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị AnhTh và anh Dương Nhất V, hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Ngãi, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74 vào ngày 27/11/2020. Hội đồng xét xử xác định, hôn nhân giữa chị Th và anh V là hôn nhân hợp pháp. Chị Th yêu cầu ly hôn với anh V vì cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, Thường xuyên cãi vã, không còn tiếng nói chung. Xét thấy, tại phiên tòa chị Th xin vắng mặt xét xử và cũng không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, cho thấy chị Th đã kiên quyết ly hôn với anh V. Ngoài ra, từ khi chị Th khởi kiện ly hôn đến nay, phía anh V cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị Th, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Th. Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân giữa chị Th và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th.
[2.3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Th và anh V có 01 con chung, tên Dương Tuệ M, sinh ngày 27/10/2019. Chị Th yêu cầu cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Xét thấy, từ khi chị Th và anh V không còn chung sống với nhau thì cháu M, được anh V chăm sóc và cháu phát triển tốt. Chị Th yêu cầu giao con cho anh V tiếp tục chăm sóc, phía anh V cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của chị Th. Tại biên bản xác minh ngày 09/05/2025, Uỷ ban nhân dân xã Trung An cung cấp: Do chị Th và anh V không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết về mâu thuẫn vợ chồng nên nay anh chị ly hôn, địa phương không biết được điều kiện nuôi con chung giữa anh chị. Hội đồng xét xử thấy rằng, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, cần tiếp tục giao cháu M cho anh V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động được. Về yêu cầu cấp dưỡng, do anh V không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con, chị Th tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng, là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị AnhTh
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị AnhTh được ly hôn với anh Dương Nhất V.
Về con chung: Giao cháu Dương Tuệ M, sinh ngày 27/10/2019, cho anh Dương Nhất V trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và lao động được. Chị Nguyễn Thị AnhTh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi và lao động được.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Dương Nhất V, bên có nghĩa vụ chậm thi hành số tiền cấp dưỡng, thì còn phải chịu số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị AnhTh phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Chị Th đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006925 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên còn phải đóng 300.000 đồng án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị AnhTh và anh Dương Nhất V, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Sắc Ly |
Bản án số 99/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 99/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHÂP NHẬN
