|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 99/2025/HC-ST
Ngày: 26-5-2025
V/v: Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng
Ông Phan Đình Khiêm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 35/2025/TLST-HC ngày 19 tháng 02 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-HC ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1970;
Địa chỉ thường trú: Số G, khu đô thị M, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên lạc: Số H Đ, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 31/3/2025).
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: KDC B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Công T1 – Giám đốc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đ
Địa chỉ: Số C T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T2 – Giám đốc.
2. Bà Phạm Ngọc A, sinh năm 1998;
Địa chỉ thường trú: Số G, khu đô thị M, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Địa chỉ liên lạc: Số H Đ, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 31/3/2025).
Tại phiên tòa, có mặt bà Nguyễn Thị Kim L, vắng mặt đại diện Văn phòng Đ, Chi nhánh Văn phòng Đ (có văn bản vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Phạm Hồng T trình bày:
Ngày 10/01/2024, ông Phạm Hồng T và con gái là bà Phạm Ngọc A làm thủ tục tặng cho một phần diện tích quyền sử dụng đất với diện tích 2000m², được tách trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 454697 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/5/2023 tại Văn phòng C1. Ngày 12/01/2024, ông T nộp hồ sơ tại bộ phần một cửa theo Biên nhận số 2024-834/TNHS. Tuy nhiên đến ngày 18/9/2024, ông T nhận được Công văn số 1461/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG về việc thông báo kết quả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T. Chi nhánh Văn phòng đã hoàn trả hồ sơ cho ông T. Nhận thấy, việc hoàn trả hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.
Nay ông Phạm Hồng T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Huỷ Thông báo số 1461/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 18/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo kết quả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ về việc tách thửa nhận một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T theo quy định của pháp luật.
* Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B vắng mặt có ý kiến tại Công văn số 1060/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 18/4/2025:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thống nhất ý kiến tại Công văn số 2099/CNVPĐKĐĐPT-TLTT ngày 25/3/2025 và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.
- Ý kiến của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ vắng mặt có ý kiến tại Công văn số 2099/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 25/3/2025:
Ngày 12/01/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ tách thửa nhận tặng cho một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T theo B nhân số 2024-834/TNHS.
Ông Phạm Hồng T nhận tặng cho một phần quyền sử dụng đất từ bà Phạm Ngọc A, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DL 454697 cấp ngày 12/5/2023, thuộc thửa đất số 230, tờ bản đồ số 86, diện tích 3000m², đất trồng cây lâu năm. Bà Phạm Ngọc A tách ra thành 02 thửa đất gồm: thửa 303, diện tích 2000m² tặng cho ông Phạm Hồng T (cha ruột), thửa 304, diện tích 1000m² còn lại cấp đổi cho bà Phạm Ngọc A.
Chi nhánh Văn phòng Đ đã luân chuyển hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T, bà Phạm Ngọc A đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ngày 13/3/2024, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh chuyển trả lại hồ sơ và có ý kiến như sau: “trả. Xác định đối tượng sử dụng đất theo Công văn số 108/STNMT-CCQLĐĐ ngày 10/01/2023 của Sở T”.
Ngày 28/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có Công văn số 2841/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, về việc báo cáo và xin ý kiến hướng dẫn giải quyết hồ sơ tách thửa tặng cho một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T.
Thực hiện theo nội dung trả nêu trên của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh. Chi nhánh Văn phòng Đ đã rà soát kiểm tra hồ sơ lưu trữ và cơ sở dữ liệu trên hệ thống quản lý thông tin đất đai-Elis Cloud, ông Phạm Hồng T và bà Nguyễn Thị C (vợ), bà Phạm Thị Ánh H và bà Phạm Ngọc A (con ruột) có thường xuyên mua bán tặng cho, tách thửa phân lô đất nông nghiệp tại xã T. Ông Phạm Hồng T, bà Nguyễn Thị C, bà Phạm Thị Ánh H và bà Phạm Ngọc A không sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nhưng nhận tặng cho đất nông nghiệp rồi liên tục tách thửa nhỏ, lẻ nhiều lần, không nhằm mục đích sản xuất nông nghiệp mà chỉ để tặng cho, tặng cho qua lại với nhau. Việc lợi dụng các quy định pháp luật đất đai để tách thửa, phân lô nêu trên làm manh mún đất nông nghiệp, đi ngược lại với chủ trường “đồn điền, đổi thửa” của Nhà nước.
Thực hiện theo các nội dung nêu trên và Công văn số 1309/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 06/5/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh, Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp tục có Công văn số 8297/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 09/9/2024 báo cáo UBND thành phố P để kiểm tra, xem xét xử lý theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 16 bản quy định kèm theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B.
Từ nội dung nêu trên, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Công văn số 1461/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 18/9/2024 thông báo và hoàn trả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 32, Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng T:
- - Huỷ Công văn số 1461/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 18/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo kết quả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T.
- - Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ về việc tách thửa nhận một phần quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Buộc người bị kiện chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quyền khởi kiện: Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông Phạm Hồng T đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông T có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 và khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phạm Hồng T yêu cầu hủy Thông báo số 1461/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 18/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc thông báo kết quả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T. Thông báo số 1461/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 18/9/2024 là Quyết định hành chính bị khởi kiện nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Xác định người bị khởi kiện: Tại điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định 102/2024/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện Luật đất đai 2024 thì Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện chức năng nhiệm vụ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, là đơn vị trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận. Hiện nay chi nhánh Văn phòng Đ chưa hoạch toán độc lập. Do đó, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật tố tụng hành chính là phù hợp.
[1.4] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, đại diện của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, đại diện Chi nhánh Văn phòng Đ đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này như đề nghị của Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 2 Điều 157 và Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà Phạm Ngọc A được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 454697 ngày 12/5/2023 đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 86, diện tích 3.000m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P.
Tại Mảnh chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai Phan Thiết đo vẽ ngày 14/12/2023 thì thửa đất số 230 tách ra thành hai thửa đất, gồm: thửa 303 diện tích 2000m² và thửa 304 diện tích 1000m².
Ngày 10/01/2024, ông Phạm Hồng T nhận tặng cho một phần quyền sử dụng đất từ con ruột là bà Phạm Ngọc A đối với thửa đất số 303 (thửa đất trước khi tách là 230), tờ bản đồ số 86, diện tích 2.000m² đất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận nêu trên. Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Công văn số 1461/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 18/9/2024 thông báo và hoàn trả hồ sơ hành chính của ông Phạm Hồng T nên ông Phạm Hồng T nộp đơn khỏi kiện yêu cầu Tòa án hủy thông báo trên.
[2.2] Xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về thẩm quyền: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1461/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 18/9/2024 là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 131 Luật đất đai 2024; Điều 21 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai.
- Về nội dung của quyết định hành chính:
Bà Phạm Ngọc A là chủ sử dụng hợp pháp 230, tờ bản đồ số 86, diện tích 3.000m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 454697 do Sở T cấp ngày 12/5/2023 nên có quyền tặng cho theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013.
Giao dịch tặng cho giữa bà Phạm Ngọc A và ông Phạm Hồng T đã được thực hiện hợp pháp theo đúng quy định pháp luật, thửa đất số 303/2.000m² đủ điều kiện tặng cho theo quy định tại khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013.
Sau khi nhận tặng cho, ông Phạm Hồng T đã thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động người sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Hai thửa đất được tách ra đều đảm bảo điều kiện diện tích tối thiểu theo quy định tại Điều 13 Quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B.
Sau khi nhận hồ sơ tặng cho của ông T, Chi nhánh Văn phòng Đ cũng đã trực tiếp đi kiểm tra. Theo Biên bản về việc kiểm tra hồ sơ chuyển quyền đất nông nghiệp ngày 23/01/2024, đã xác định như sau:
- Về hiện trạng khu đất: Trên đất trồng cây bạch đàn, không có công trình xây dựng.
- Tình trạng tranh chấp, khiếu nại: Hiện không tranh chấp.
Qua quá trình kiểm tra, Chi nhánh Văn phòng Đ phối hợp với chủ sử dụng đất thống nhất ý kiến như sau: Việc tách thửa tặng cho một phần của bà A và ông T là đúng theo quy định tại Điều 4, Điều 13, Điều 14 Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B, không vi phạm pháp luật đất đai, sử dụng đất đúng mục đích, hiện trạng trên đất là cây bạch đàn, không xây dựng công trình. Chủ sử dụng đất đã có cam kết không thu gom nâng giá đất, tách thửa đất nông nghiệp phân lô đất nông nghiệp đầu cơ, tăng giá trục lợi. Vị trí thửa đất xin tách đúng hiện trạng, đúng kích thước, diện tích theo quy định tại Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của UBND tỉnh B.
Vì vậy việc ông Phạm Hồng T nhận tặng cho là hợp pháp và ông T có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cập nhật biến động đất đai vào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng gia đình ông Phạm Hồng T không sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Thuận nhưng nhận tặng cho đất nông nghiệp rồi liên tục tách thửa nhỏ, lẻ nhiều lần, không nhằm mục đích sản xuất nông nghiệp mà chỉ để tặng cho qua lại với nhau, làm manh mún đất nông nghiệp, đi ngược lại với chủ trương “đồn điền, đổi thửa” của Nhà nước, đồng thời viện dẫn các văn bản của UBND tỉnh B, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B mà không đưa ra được căn cứ pháp lý nào cụ thể để hoàn trả hồ sơ là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.
[2.3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc trả hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Văn bản số 1461/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 18/9/2024 là không đúng quy định của pháp luật nên ông Phạm Hồng T yêu cầu hủy Văn bản trên là có căn cứ, như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng T được chấp nhận nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. ông Phạm Hồng T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào:
- - Khoản 1, 2, 9 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 157; Điều 158 và Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;
- - Khoản Điều 167; khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013;
- - Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hồng T:
- - Huỷ Thông báo số 1461/CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 18/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Hồng T;
- - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật trong việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký cập nhật biến động tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Phạm Hồng T.
[3] Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Phạm Hồng T không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phạm Hồng T số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000599 ngày 17/2/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/5/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 99/2025/HC-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 99/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hồng T khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
