Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2025/DSPT

Ngày: 23 - 5 - 2025

V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp
  • Ông Nguyễn Thanh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 07/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 (có mặt).
  • Trú tại: Thôn A, xã B, huyện T, Bình Định.
  • Bị đơn: Vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1 (có mặt), sinh năm 1989 - ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977 (vắng mặt).
  • HKTT: 163 Q, khối C, thị trấn P, T, Bình Định.
  • Hiện trú: 20 V, thị trấn P, huyện T, Bình Định (trước đây tạm trú: 01 P, thị trấn P, huyện T).
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • + Nguyễn Thành P, sinh năm 1998; Nguyễn Thành Q, sinh năm 2000 - (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện T, Bình Định.
  • + Bà Võ Thị Bích V, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: F Đ, thị trấn P, huyện T, Bình Định.
  • + Bà Võ Thị Bích H, sinh năm 1967 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: 1 Q, thị trấn P, huyện T, Bình Định.
  • - Người làm chứng:
  • + Bà Lê Thị Q1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: K, thị trấn P, huyện T, Bình Định.
  • + Bà Vũ Thị D, sinh năm 1976 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: B Q, thị trấn P, huyện T, Bình Định.
  • + Anh Nguyễn Anh T3, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: B Q, thị trấn P, huyện T, Bình Định.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn bà Dương Thị Ánh T1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 02/7/2016 (âm lịch) vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, ông Nguyễn Văn T2 vay của bà số tiền 400.000.000đ, có viết giấy nhận tiền cho bà, không ghi lãi, không xác định hạn trả nợ; hai bên chỉ thỏa thuận miệng tiền lãi là 1,5%/tháng. Trước đó, bà T1 có tham gia chơi huê hụi do bà làm cái, một chân 5.000.000đ/tháng, ban đầu chơi vài chân, sau đó tăng dần, đến năm 2017 khi T1 không trả nợ cho bà thì bà mới cho bà T1 chơi khoảng 40 chân huê. Cuối năm 2017 bà có việc gia đình, nên xả tất cả huê; tính tiền huê cho bà T1, số tiền bà T1 khai đã trả cho bà (chuyển khoản qua Ngân hàng, chuyển qua thẻ ATM, con bà (Q) nhận, cấn trả hai khoản bà nợ bà H 20 triệu, nợ bà V Hảo 20 triệu) - là khoản tiền trả nợ khoản tiền chơi huê mà bà T1 tham gia chơi còn chưa đóng đủ tiền, không phải trả cho khoản nợ 400.000.000đ vợ chồng T1, T2 vay năm 2016 (tuy nhiên, bà T không đưa ra được chứng cứ gì về việc bà T1 tham gia chơi huê hụi với bà còn nợ tiền). Bà T1 ông T2 còn nợ bà số tiền 400.000.000đ và toàn bộ tiền lãi từ ngày vay cho đến nay chưa trả khoản nào. Nay bà yêu cầu buộc vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1 - ông Nguyễn Văn T2 phải trả cho bà số tiền vay 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), yêu cầu buộc trả tiền lãi từ ngày 04/11/2016 cho đến khi trả xong nợ theo lãi suất do nhà nước quy định.

Theo bản khai, biên bản hoà giải và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn là bà Dương Thị Ánh T1 trình bày:

Xác nhận năm 2016 vợ chồng bà có mượn của bà T số tiền 300.000.000₫ tiền gốc; lãi thỏa thuận miệng 10%/tháng - tiền này là bà lấy cho bà Nguyễn Thị Bích V1 mượn. Do bà V1 không chịu trả nên bà chịu trách nhiệm trả nợ. Sau 3 tháng lãi bà T gộp lãi lại buộc vợ chồng bà viết giấy nhận tiền ngày 02/7/2016 (AL) với số tiền mượn là 400.000.000đ (Bốn trăm triệu đồng), không ghi lãi, thời hạn trả do hai bên thỏa thuận. Trước đó thì bà có tham gia chơi 16 khâu huê

(sống, chưa trúng huê), sau đó tăng lên dần, mỗi lần tăng thêm 04 - 08 khâu, tổng cộng bà chơi 40 chân huê, 5.000.000đ/chân/tháng. Từ khi tham gia chơi huê đến tháng 10/2017 thì bà đóng tiền huê đầy đủ. Rồi cuối năm 2017 bà T xả huê, trừ 09 chân huê sống, tổng số tiền huê sống bà đã nộp mà bà T giữ của bà là 360.000.000đ, có chứng từ chốt huê do bà T ghi. Sau đó, bà T cấn trừ tiền huê chết, tiền lãi, xong còn dư lại của bà là 4.500.000đ, bà đã trả đủ tiền huê.

Còn đối với khoản nợ 400 triệu đồng thì vợ chồng bà đã trả xong (qua chuyển khoản Ngân hàng, Q, P con bà T lên lấy tiền, cấn trừ hai khoản bà T nợ bà H 20 triệu, nợ bà Vân H1 20 triệu - T1 đem tiền đến trả thay bà T và lấy giấy nợ về); tổng số tiền trả 401.000.000đ (gốc), tiền lãi thì bà đã trả xong (có giấy tính tiền do bà T ghi xác nhận). Tuy nhiên, tại phiên tòa ngày 29/10/2024 bà T1 khai lại là về tiền lãi thì giữa bà với bà T có thỏa thuận miệng là không tính nữa. Do đã trả qua Ngân hàng nên vợ chồng bà không lấy lại Giấy nhận tiền từ bà T. Vợ chồng bà đã trả xong nợ gốc 400 triệu đồng cho bà T, không còn nợ nần gì. Không chấp nhận trả tiền theo yêu cầu của bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T2 đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T2 vắng mặt không có lý do

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành P trình bày: anh là con ruột của bà Nguyễn Thị T. Anh biết mẹ anh có chơi huê hụi, cho vay tiền với vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, Nguyễn Văn T2. Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2019 thì bà T1 có chuyển khoản vào tài khoản của anh (số tài khoản: 4304205139885, Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện T) với tổng số tiền là 26.000.000đ. Ngoài ra, anh không biết sự việc gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Thành Q trình bày: anh là con ruột của bà Nguyễn Thị T. Anh biết mẹ anh có chơi huê hụi, cho vay tiền với vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, Nguyễn Văn T2. Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2019 thì mẹ anh có bảo anh đến nhà bà T1 lấy tiền, mẹ bảo thì anh đi lấy tiền chứ không biết đó là khoản tiền gì. Anh nhớ là đã đến nhà bà T1 lấy tiền khoảng trên 10 lần, mỗi lần lấy số tiền khoảng một vài triệu đồng, có vài lần khi anh lấy tiền thì bà T1 ghi sổ theo dõi bảo anh ký thì anh có ký tên, còn lại một số lần thì không có ký sổ hay ghi giấy nhận tiền gì cả. Ngoài ra, anh không biết sự việc gì khác. Đối với các dòng ghi số tiền 20.000.000đ; 10.000.000đ trong giấy theo dõi trả nợ bà T1 nộp Tòa anh không nhận tiền, không thừa nhận chữ ký

Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T:

1.1. Buộc vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, ông Nguyễn Văn T2 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 377.159.149 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy

triệu một trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng) về khoản nợ vay còn lại theo Giấy nhận tiền ngày 02/7/2016 (ÂL) chưa thanh toán. Trong đó nợ gốc là 274.146.000đ; tiền lãi đến 29/10/2024 là 103.013.149đ.

Kể từ ngày 30/10/2024 cho đến khi thi hành án xong vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, ông Nguyễn Văn T2 còn phải trả bà T khoản tiền lãi trên số nợ gốc còn phải thanh toán theo mức lãi suất 10%/năm.

1.2. Bác yêu cầu vợ chồng bà T1, ông T2 cho rằng đã trả xong cho bà T 401.000.000 đồng tiền gốc và toàn bộ tiền lãi vì không có đủ chứng cứ để chứng minh và không phù hợp với quy định của pháp luật.

1.3. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị T đòi vợ chồng bà T1, ông T2 phải trả tiền gốc (400 triệu đồng) và tiền lãi (lãi suất 1,5%) từ ngày 04/11/2016 đến nay vì không có chứng cứ để chứng minh, không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 05/12/2024, bị đơn bà Dương Thị Ánh T1 kháng cáo không đồng ý phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 377.159.149 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu một trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng) về khoản nợ vay còn lại theo Giấy nhận tiền ngày 02/7/2016 (ÂL) chưa thanh toán và yêu cầu xem xét lại các biên lai chuyển tiền đã thanh toán.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Dương Thị Ánh T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng đồng thời đề nghị: HĐXX phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị Ánh T1, sửa bản án sơ thẩm giảm cho bà T1 50.000.000 đồng tiền gốc và lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bà Dương Thị Ánh T1 trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí theo quy định, nên xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bà Dương Thị Ánh T1, HĐXX thấy rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận: Ngày 02/7/2016 (âm lịch) vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1, ông Nguyễn Văn T2 vay của bà Nguyễn Thị T số tiền

400.000.000đ, có viết giấy nhận tiền, không ghi lãi, không xác định hạn trả nợ; hai bên chỉ thỏa thuận miệng tiền vay có trả lãi.

Từ đó đến nay, Bà T1 ông T2 chưa trả cho bà T khoản nào tiền gốc và toàn bộ tiền lãi từ ngày vay số tiền 400.000.000 đồng. Nay bà T yêu cầu buộc vợ chồng bà Dương Thị Ánh T1 - ông Nguyễn Văn T2 phải trả cho bà số tiền vay 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) và yêu cầu buộc trả tiền lãi từ ngày 04/11/2016 cho đến khi trả xong nợ theo lãi suất do nhà nước quy định.

Vợ chồng bà T1, ông T2 cho rằng vợ chồng bà đã trả xong khoản nợ 400 triệu đồng cho bà T (qua chuyển khoản Ngân hàng, Q, P con bà T lên lấy tiền, cấn trừ hai khoản bà T nợ bà H 20 triệu, nợ bà Vân H1 20 triệu - T1 đem tiền đến trả thay bà T và lấy giấy nợ về). Do việc trả tiền được thực hiện qua giao dịch chuyển khoản Ngân hàng nên vợ chồng bà không lấy lại Giấy nhận tiền từ bà T. Vợ chồng bà đã trả xong nợ gốc 400 triệu đồng cho bà T. Toà án cấp sơ thẩm buộc vợ chồng bà phải trả cho bà T số tiền là 377.159.149 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu một trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng), bà không đồng ý vì bà đã trả hết cả gốc và lãi cho bà T nên bà kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm xem xét lại.

HĐXX xét thấy: Từ năm 2017 đến 2020, bà T1 đã chuyển trả tiền nhiều lần cho bà T, anh P (qua Ngân hàng); khoản tiền 40.000.000đ năm 2020 bà T1 trả nợ cho bà V1, bà H thay bà T; các khoản tiền nhận có ký sổ và Nguyễn Thành Q thừa nhận: 12.500.000đ; bà T mua hàng từ bà Vũ Thị D (bà T1 trả tiền) 3.500.000đ; 02 lần cháu bà T là Á nhận 4.000.000đ; mua quạt nước 6.000.000đ; bà T nhận 1.000.000đ cắt kính, kính sửa điện thoại (năm 2020) - (bà T thừa nhận); P nhận 2.000.000đ do bà Q1 đưa (2018). Tổng cộng các khoản bà T1, ông T2 trả nợ cho bà T với số tổng tiền là: 270.500.000đ. Mặt khác, vợ chồng bà T1, ông T2 không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh cho việc khoản tiền này là trả cho nợ gốc hay nợ lãi. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc vợ chồng bà T1, ông T2 phải trả cho bà T số tiền là 377.159.149 đồng (Ba trăm bảy mươi bảy triệu một trăm năm mươi chín nghìn một trăm bốn mươi chín đồng) về khoản nợ vay còn lại theo Giấy nhận tiền ngày 02/7/2016 (ÂL) chưa thanh toán. Trong đó nợ gốc là 274.146.000đ; tiền lãi đến 29/10/2024 là 103.013.149 đồng là có căn cứ, đúng quy định tại điều 463, 466 Bộ luật dân sự. Nên không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị Ánh T1, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

- Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Dương Thị Ánh T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[5] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Dương Thị Ánh T1, sửa bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toá án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Dương Thị Ánh T1, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số: 37/2024/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Dương Thị Ánh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005798 ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

  3. Các phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/DSPT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 99/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án ST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger