|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 99/2025/DS - PT
Ngày 30/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quế.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hà và ông Hoàng Văn Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 và ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2025/TLPT - DS ngày 04 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản.
Do bản dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS - ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 62/QĐPT-DS ngày 26 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự;
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm M, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H: Ông Phùng Đức T và bà Nguyễn Thị T1, đều là Luật sư thuộc Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh T (đều có mặt tại phiên toà). - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1980 (vợ ông C); Địa chỉ: Xóm M, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).
2
- Người làm chứng:
- 4.1. Ông Đặng Thế Q, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ I, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- 4.2. Ông Nguyễn Văn B; Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- 4.3. Ông Nguyễn Quang C, nguyên là giám đốc công ty TNHH M;
- 4.4. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1979; Nơi làm việc: Mỏ đá Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
- 4.5. Ông Lường Văn T3, sinh năm 1973; Nơi làm việc: Mỏ đá Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
- 4.6. Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1991; Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt anh L, vắng mặt ông Q, ông B, ông C, ông T2, ông T3).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Quang C trình bày: Ngày 15/01/2021 ông và ông Nguyễn Văn H cùng nhau góp vốn cổ phần để sản xuất dây chuyền nghiền đá tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do điều kiện cá nhân ông không tiếp tục làm nữa nên ngày 01/6/2022 ông đã cho ông H thuê toàn bộ cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất và cùng nhau ký hợp đồng nội dung như sau: Ông Nguyễn Văn H thuê máy móc, thiết bị, tài sản (dây chuyền sản xuất đá hay còn gọi là trạm nghiền số 02) gồm:
- - 01 trạm nghiền, dây chuyền, động cơ, tủ điều khiển (tình trạng hoạt động bình thường);
- - 01 trạm biến áp 630 KVA 35/0,6KV hệ thống đường dây hạ thế (tình trạng hoạt động bình thường hiện tại đang đứng tên ông Nguyễn Quang C có địa chỉ tại: xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên);
- - 01 máy xúc lật công suất 0,2m³ (tình trạng hoạt động bình thường);
- - 02 máy xúc comashu 200-3 đơn vị (tình trạng hoạt động bình thường);
- - 01 dãy nhà văn phòng diện tích 100m² để ăn ở sinh hoạt và làm việc;
- - 01 bốt gác diện tích 03m²;
- - 05 máy điều hòa công suất 9000BTU tình trạng hoạt động bình thường);
- - 02 quạt trần (tình trạng hoạt động bình thường);
- - 01 tủ bảo ôn; 01 tủ lạnh; 01 phòng điều khiển dàn máy nghiền là container; 01 loa kéo; 05 quạt cây (tình trạng hoạt động bình thường).
Toàn bộ các cơ sở vật chất trên nằm tại Mỏ đá Đ thuộc xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuộc Công ty TNHH M quản lý.
Về thời hạn thuê tài sản trên là từ ngày 01/6/2022 đến ngày 30/5/2023.
Về phương thức thanh toán và giá tiền cho thuê: Ông Nguyễn Văn H đồng ý trả cho ông Nguyễn Quang C 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) một tháng: Ông H có trách nhiệm trả số tiền thuê vào ngày 25 đến ngày 30 hàng tháng.
3
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn H đã trả cho ông tiền thuê thiết bị đến tháng 9/2022. Còn từ tháng 10/2022 đến tháng 5/2023 ông Nguyễn Văn H chưa trả cho ông số tiền thuê tổng cộng là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng). Ngoài ra ông H còn bán của ông một số tài sản là vật tư tồn kho tổng là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng). Mặc dù đã nhiều lần nhắc nhở ông H có trách nhiệm trả cho ông số tiền thuê thiết bị như trên, tuy nhiên ông H lấy nhiều lý do không hợp lý để không trả cho ông khoản tiền thuê tài sản còn nợ. Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 24/5/2023, ông H không những không trả tiền thuê cho ông mà còn tự ý thanh lý hợp đồng với chủ mỏ là Công ty TNHH M, không thông báo cho ông được biết. Như vậy ông H đã không thực hiện đúng cam kết về thời hạn thanh lý hợp đồng, tiền thuê thiết bị theo như Hợp đồng đã ký. Suốt quá trình thuê thiết bị dây chuyền sản xuất đá, ông H đã liên tục vận hành và sản xuất đá trên dây chuyền sản xuất này không nghỉ ngày, tháng nào. Do ông H đã thanh lý toàn bộ Hợp đồng với Công ty TNHH M, ngày 27/5/2024 ông phải đến để làm thủ tục thanh lý bán tài sản là dây chuyền thiết bị sản xuất như nêu trên và trả mặt bằng cho người khác thuê lại mỏ đá của Công ty. Như vậy, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê tài sản theo thoả thuận của hợp đồng cho thuê, nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên buộc ông Nguyễn Văn H phải trả cho ông tổng số tiền thuê tài sản tính từ tháng 10/2022 đến ngày 24/5/2023 là: 07 tháng x 50.000.000đồng/tháng = 350.000.000đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng). Đối với với số tiền 35.000.000 đồng là tiền bộ vật tư tồn kho có biên bản bản giao tài sản ngày 14/5/2022, do ông H đã bán, quá trình giải quyết và tại phiên toà ông có đề nghị rút không yêu cầu ông H phải trả cho ông khoản tiền này.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và ông Nguyễn Quang C có Hợp đồng góp vốn mua chung thiết bị dây chuyền sản xuất và ông có ký Hợp đồng thuê lại thiết bị ông như ông C trình bày là đúng. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê thiết bị dây chuyền sản xuất đá giữa ông và ông C, ông xác định không vi phạm. Hàng tháng ông vẫn thanh toán đầy đủ cho ông C số tiền đã ghi trong hợp đồng bằng hình thức chuyển khoản hoặc khấu trừ tiền hàng mà vợ chồng ông C mua hàng là đá của ông.
Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 27/02/2023 là thời gian ngừng sản xuất do hết vật liệu nổ, theo như thỏa thuận hợp đồng đã ký kết thì ông không phải trả tiền thuê máy cho ông C khi dừng sản xuất do hết vật liệu nổ, những tháng đó trong thời gian ngừng sản xuất ông đều thông báo đến ông C. Như vậy ông xác định không nợ số tiền mà ông C yêu cầu. Ông C cho rằng bán vật tư, thiết bị là hoàn toàn không đúng.
4
Ngày 27/5/2023 ông C tự ý bán thiết bị dây chuyền sản xuất (phần góp vốn) của ông cho người khác mà không thông báo hoặc có ý kiến gì với ông. Chủ mới bắt ông phải bàn giao máy và ngừng sản xuất luôn trong ngày 27/5/2023, như vậy ông C đã vi phạm hợp đồng vì hợp đồng có thời hạn đến ngày 30/5/2023. Do vậy ông C đã phá hợp đồng trước 04 ngày, gây ra thiệt hại cho ông. 01 ngày sản xuất được 1.000m³.
Như vậy: 04 ngày x 1.000m³ = 4.000m³; Giá bán bình quân với đá thành phẩm là: 140.000đ/m³; Do đó thiệt hại của ông trong 04 ngày là: 4.000m³ x 140.000đ/m³ = 560.000.000đ (năm trăm sáu mươi triệu đồng).
Nay ông C khởi kiện yêu cầu ông phải trả cho ông C số tiền 350.000.000 đồng, ông không nhất trí. Ông xác định không còn nợ nần gì với ông C, do từ tháng 10/2022 đến 27/02/2023, công ty ông tạm dừng sản xuất do hết vật liệu nổ, giữa ông và Công ty TNHH M có lập biên bản về việc tạm dừng sản xuất tại mỏ đá Đ. Đến ngày 18/02/2023 giữa ông và Công ty M tiếp tục lập biên bản làm việc về việc tiếp tục sản xuất trạm nghiền từ ngày 27/02/2023 do đã có vật liệu nổ. Ngay khi tạm dừng sản xuất ông đã thông báo ngay cho ông C, ông C đã được nhận thông báo và không có ý kiến phản hồi gì. Nay ông không nhất trí trả số tiền thuê thiết bị trong 03 tháng (từ tháng 10/2022 đến 27/02/2023), ông chỉ trả cho ông C tiền thuê thiết bị từ tháng 03/2023 đến 24/5/2023 tổng số tiền là 150.000.000đồng.
Ngày 22/6/2024, Toà án thụ lý yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H đề nghị được đối trừ khoản nợ do vợ chồng ông C đã mua hàng là vật liệu xây dựng các loại đá của ông từ tháng 10/2023 đến 05/03/2023, tổng cộng là 107.615.000 đồng. Đối với các khoản nợ khác, ông cũng đã thông báo thống nhất số nợ bằng miệng với ông C và có gửi cho ông C được biết số hàng vợ chồng ông C mua và số tiền hàng qua tin nhắn mạng Z (ông H có cung cấp 01 vi bằng ghi nhận lại sự kiện, hành vi của ông H và ông C thực hiện trên thao tác điện thoại di động qua tin nhắn trong ứng dụng “ Zalo” để làm căn cứ). Nên ông xác định đến thời điểm hiện tại giữa hai bên đã thanh toán đối trừ tiền cho nhau xong, không ai còn nợ ai, nên ông không có trách nhiệm trả cho ông C số tiền ông C yêu cầu ông trả.
Về khoản anh C đã phá hợp đồng trước 04 ngày gây ra thiệt hại cho ông trong 04 ngày không sản xuất được, tổng thiệt hại 560.000.000đ (năm trăm sáu mươi triệu đồng), quá trình hoà giải và tại phiên toà ông rút yêu cầu, không yêu cầu buộc ông C phải bồi thường cho ông khoản tiền trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Quang C, về việc ông C chồng bà có ký hợp đồng thuê thiết bị dây chuyền sản xuất bà có được biết, tuy nhiên bà xác định không liên quan gì đến công việc làm ăn kinh doanh của ông C, việc ông H yêu cầu đối trừ công nợ của bà để thanh toán tiền thuê thiết bị bà không nhất trí, bà
5
xác định không có giao dịch mua bán gì đối với ông H, nếu có bà đề nghị giải quyết trong vụ án khác khi có căn cứ về việc chốt công nợ với nhau. Công việc kinh doanh của bà và của chồng bà ông C là hoàn toàn độc lập không liên quan đến nhau, nên bà không nhất trí đối trừ vào tiền thuê tài sản của ông H. Bà yêu cầu ông H phải có trách nhiệm trả số tiền thuê thiết bị dây chuyền sản xuất cho ông C theo thoả thuận của Hợp đồng cho thuê.
Những người làm chứng khai:
- Ông Nguyễn Quang C (cùng họ tên với nguyên đơn) khai: Trước đây ông là giám đốc Công ty TNHH M vào thời điểm tháng 6/2022, ông có biết việc ông Nguyễn Quang C có lập Hợp đồng cho thuê với ông Nguyễn Văn H về việc ông H thuê tài sản là dây chuyển sản xuất đá của ông C để sản xuất tại Công ty của ông ở mỏ đá Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Về nội dung của hợp đồng và việc thoả thuận như thế nào trong Hợp đồng thì ông không nắm được. Trong quá trình Công ty của ông H thuê mỏ đá của công ty ông để khai thác đá, ngày 10/10/2022, Công ty TNHH M và Công ty TNHH H2 do ông H là giám đốc có lập biên bản về việc tạm dừng sản xuất mỏ đá Đồng Luông do hết vật liệu nổ. Từ ngày 10/10/2022 đến ngày 27/02/2023 thì hai bên lại tiếp tục có biên bản về việc tiếp tục hoạt động sản xuất. Đến ngày 24/5/2023, Công ty TNHH M và Công ty TNHH H2 lập biên bản xác nhận công nợ và thanh lý hợp đồng số 33 ngày 20/4/2021 và tất cả các hợp đồng khác đã ký trước ngày 24/5/2023, từ ngày 24/5/2023 tất cả các hợp đồng trên đều không còn giá trị pháp lý, Công ty TNHH H2 phải có trách nhiệm tháo dỡ, di chuyển toàn bộ máy móc thiết bị, cơ sở vật chất, tài sản đã xây dựng, lắp đặt tại mỏ đá Đồng Luông trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh lý hợp đồng ngày 24/5/2023. Do vậy giữa Công ty TNHH M và Công ty TNHH H2 đã kết thúc toàn bộ hợp đồng thuê mỏ đá Đồng Luông kể từ ngày 24/5/2023. Về nội dung tranh chấp hợp đồng thuê tài sản giữa ông C và ông H không liên quan gì đến Công ty TNHH M, hiện tại Giám đốc Công ty TNHH M là người khác, ông đã không còn là Giám đốc của Công ty này nữa, mọi thủ tục giấy tờ, hoạt động của Công ty do Giám đốc mới điều hành.
- Ông Đặng Thế Q trình bày: Ông là Giám đốc điều hành của Công ty TNHH M có quen biết ông Nguyễn Quang C và ông Nguyễn Văn H do có thuê mỏ đá Đồng Luông do Công ty của ông quản lý để sản xuất vật liệu xây dựng. Ông H và ông C có lắp đặt dây chuyền sản xuất đá tại mỏ đá Đ. Tại thời điểm cho thuê thì tại mỏ đá Đồng Luông có 2 dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất số 2 là dây chuyền sản xuất của ông C và ông H, còn một dây chuyển sản xuất là của người khác. Thời điểm tháng 10/2022 ông Hải báo với công ty TNHH M dừng sản xuất do hết vật liệu nổ nên giữa Công ty M và Công ty TNHH H2 do ông H là giám đốc có lập biên bản về việc tạm dừng sản xuất với các nội dung thể hiện trong biên bản lập ngày 10/10/2022. Sau đó đến ngày
6
18/2/2023 hai bên có lập biên bản tiếp tục sản xuất với lý do có vật liệu nổ. Trong thời gian tạm dừng sản xuất từ ngày 10/10/2022 đến 27/12/2023, việc ông H có vận hành, hoạt động sản xuất đá trên dây chuyền sản xuất số 2 hay không thì ông không biết vì thời điểm đó ông về văn phòng của Công ty để làm sổ sách, không lên mỏ đá Đồng Luông làm việc. Nay có việc tranh chấp giữa ông C và ông H về hợp đồng thuê tài sản là thiết bị dây chuyền sản xuất thì ông không biết, không nắm được về nội dung này, nên ông không có ý kiến quan điểm gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông đề nghị giải quyết vắng mặt ông tại Toà án và tại các phiên toà xét xử.
Tại phiên toà, nguyên đơn ông Nguyễn Quang C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về yêu cầu phản tố của ông H đề nghị đối trừ công nợ của bà H1 vợ ông sang tiền thuê thiết bị, dây chuyền sản xuất ông không nhất trí, bởi vợ chồng ông kinh doanh độc lập, việc bà H1 có giao dịch mua bán hàng với ông H hay không kể từ thời điểm tháng 10/2022 đến tháng 5/2023 ông không nắm được và ông không nhất trí việc ông H đối trừ công nợ sang tiền thuê thiết bị, dây chuyền sản xuất của ông. Bị đơn ông Nguyễn Văn H không nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn, ông chỉ nhất trí trả 03 tháng 02, 04, 05/2023 tổng số tiền 150.000.000 đồng, tuy nhiên đối trừ công nợ do bà H1 vợ ông C có mua hàng của ông từ ngày 11/11/2022 đến ngày 05/03/2023 tổng số tiền: 107.615.000đồng (đã trao đổi thông báo đối trừ công nợ với nhau qua tin nhắn Zalo giữa ông H và ông C). Do vậy tại thời điểm hiện tại giữa ông và ông C đã đối trừ nợ và thanh toán xong, ông không còn nợ ông C khoản tiền nào nữa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu H1 không nhất trí yêu cầu của ông H về việc đối trừ công nợ để thanh toán tiền thuê thiết bị, bà xác định không có giao dịch mua bán gì đối với ông H, không có việc đối chiếu chốt công nợ giữa bà với ông H, bà không trực tiếp là người lấy hàng của ông H, không ký sổ nên bà không đồng ý với ông H về việc ông H cho rằng bà mua hàng của ông, công việc kinh doanh của bà và của chồng bà là ông C hoàn toàn độc lập không liên quan đến nhau, nên bà không nhất trí đối trừ vào tiền thuê tài sản của ông H. Bà yêu cầu ông H phải có trách nhiệm trả số tiền thuê thiết bị, dây chuyền sản xuất cho ông C theo thoả thuận của Hợp đồng cho thuê.
Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang C, buộc ông Nguyễn Văn H thanh toán cho ông Nguyễn Quang C khoản tiền thuê thiết bị theo hợp đồng ký kết ngày 01/06/2022 số tiền 03 tháng 03 ngày là 155.000.000 đồng.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông H phải trả số tiền 35.000.000 đồng do ông C rút yêu cầu.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông H phải trả số tiền thuê tài sản từ 10/10/2022 đến 27/02/2023, do ông C rút
7
yêu cầu.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về việc ông C đã phá hợp đồng trước 04 ngày gây ra thiệt hại cho ông 560.000.000 đồng, do ông H rút yêu cầu.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H về việc đối trừ khoản tiền hàng của bà Nguyễn Thị Thu H1 từ ngày 11/11/2022 đến ngày 05/03/2023 tổng số tiền: 107.615.000 đồng, ông H có quyền được khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá trong vụ kiện dân sự khác khi có đầy đủ chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.
Với nội dung nêu trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS - ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, 513, 514, 515, 516, 517, 518, 519, 520, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Quang C, buộc ông Nguyễn Văn H thanh toán cho ông Nguyễn Quang C khoản tiền thuê thiết bị theo hợp đồng cho thuê ngày 01/06/2022, các tháng từ ngày 27/02 đến ngày 30/5/2023 là: 03 tháng 03 ngày x 50.000.000đ/tháng = 155.000.000đ (một trăm năm mươi lăm triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H về việc đối trừ khoản tiền hàng của vợ chồng ông Nguyễn Quang C và bà Nguyễn Thị Thu H1 từ ngày 11/11/2022 đến ngày 05/03/2023 tổng số tiền: 107.615.000đồng.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông H phải trả số tiền thuê thiết bị từ ngày 11/10/2022 đến 27/02/2023 do ông C rút yêu cầu.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông H phải trả số tiền 35.000.000đồng là tiền bộ vật tư tồn kho có biên bản bản giao tài sản ngày 14/5/2022, do ông H đã bán, do ông C rút yêu cầu.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về việc ông C đã phá hợp đồng trước 04 ngày gây ra thiệt hại cho ông trong 04 ngày không sản xuất được, tổng thiệt hại 560.000.000 đồng, do ông H rút yêu cầu.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/01/2025, ông Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo cho rằng ông không còn nợ ông C nữa vì bà H1 vợ ông C đã mua đá của ông còn nợ tổng
8
cộng 107.615.000 đồng chưa trả ông tiền nên phải đối trừ công nợ nhưng cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông là không thoả đáng.
Tại phiên toà phúc thẩm, ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị được trừ số tiền mà bà H1 vợ ông C chưa trả cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận số tiền ông H phải trả cho ông C là 141.500.000 đồng, ông C cũng đồng ý số tiền 141.500.000 đồng do ông H trả nhưng ông C không đồng ý đối trừ tiền hàng mà bà H1 vợ ông C mua đá của ông H. Việc mua bán giữa bà H1 và ông H hai bên tự chịu trách nhiệm trả cho nhau, do vậy nếu ông H chứng minh được bà H1 còn nợ ông 107.165.000 đồng thì buộc bà H1 phải trả cho ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1]. Về kháng cáo của ông H thấy rằng: Do có mối quan hệ thân thiết nên ông Nguyễn Quang C và ông Nguyễn Văn H cùng nhau góp vốn cổ phần để sản xuất dây chuyền nghiền đá tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Do điều kiện cá nhân nên ông C không tiếp tục làm nữa và ngày 01/6/2022 ông C đã cho ông H thuê lại toàn bộ cơ sở vật chất, máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất đá và cùng nhau ký hợp đồng. Thời hạn thuê tài sản trên từ ngày 01/6/2022 đến ngày 30/5/2023. Ông Nguyễn Văn H đồng ý trả cho ông Nguyễn Quang C 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) một tháng và ông C chấp nhận. Ông C cho rằng ông H còn nợ tiền ông C chưa thanh toán trả và yêu cầu ông H trả, còn ông H thì cho rằng tuy có nợ ông C nhưng hai bên đã thanh toán cho nhau xong vì bà H1 vợ của ông C mua vật liệu là đá của ông chưa thanh toán cho ông nhưng ông và ông C đã đối chiếu bù trừ cho nhau coi như xong. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp và buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho ông C số tiền còn nợ ông C là 03 tháng 03 ngày bằng 155.000.000đ, ông C không kháng cáo. Căn cứ vào số tiền thuê thiết bị mà ông H phải trả cho ông C theo ông H tính toán thì ông còn nợ ông C 141.500.000đ, ông C cũng đồng ý, tuy nhiên cộng số học thì số tiền ông H phải trả cho ông C là 142.500.000 đồng. Do vậy buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho ông C 142.500.000 đồng, mới đúng.
[2]. Xét kháng cáo của ông H yêu cầu bù trừ nghĩa vụ thanh toán số tiền
9
mà bà H1 vợ ông C lấy đá của ông H nhưng chưa trả tiền cho ông H là 107.615.000 đồng, thì thấy rằng: Quá trình tại cấp sơ thẩm, bà H1 luôn phủ nhận không làm ăn gì với ông H nên không có việc bà mua đá của ông H, không có chứng cứ bà ký sổ nợ ông H số tiền 107.165.000 đồng nên không có trách nhiệm trả số tiền này cho ông H. Tại phiên toà phúc thẩm bà H1 đã thừa nhận có việc mua của ông H số lượng đá do ông B là người lái xe chở đá cho bà nhưng việc thanh toán giữa bà và ông H đã xong trước tháng 10/2022, còn từ sau tháng 10 năm 2022, bà không mua bán gì với ông H nữa nên bà không đồng ý đối trừ nghĩa vụ thanh toán với chồng bà là ông C.
[3]. Căn cứ vào các vi bằng do ông H xuất trình, căn cứ vào bản ký nhận hàng của ông B là người lái xe cho bà H1 đến lấy hàng vật liệu là đá của ông H, căn cứ vào lời khai của ông C chồng bà H1 cũng thừa nhận bà H1 có mua đá của ông H thể hiện tại vi bằng có tin nhắn của ông H cho ông C với nội dung “Từ ngày 11/11/2022 đến ngày 5/3/2023 tổng 107.615.000” không thấy ông C trả lời tin nhắn thì ông H lại nhắn tiếp “ngày 27/5/2023 lên mỏ gặp nhau để bàn giao máy và thanh toán tiền của tháng 4 và 5”. Ông C có nhắn lại “sáng hôm đó em có việc để chiều anh nhé”. Mặt khác ông C cũng thừa nhận có tin nhắn giữa ông và ông H nhưng đây là quan hệ mua bán giữa ông H và vợ ông nên ông không đồng ý đối trừ tiền ông H còn nợ ông, việc vợ ông và ông H tự giải quyết. Tổng hợp các tài liệu, chứng cứ có đủ cơ sở xác định bà H1 vợ ông C có mua vật liệu là đá của ông H và còn nợ ông H chưa thanh toán là 107.615.000đ, do vậy cần buộc bà H1 phải thanh toán trả cho ông H mà không đối trừ nghĩa vụ thanh toán giữa ông H và ông C. Toà án cấp sơ thẩm tách ra để giải quyết bằng vụ kiện khác làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án là không đúng mà phải giải quyết trong cùng vụ án khi ông H có yêu cầu độc lập, đã nộp các văn bản, tài liệu, chứng cứ do vậy chấp nhận kháng cáo của ông H.
[4]. Tại phiên toà phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích cho ông H đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do ông H cung cấp đủ cơ sở xác định bà H1 vợ ông C có mua đá của ông H chưa thanh toán với số tiền là 107.165.000 đồng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho bù trừ nghĩa vụ thanh toán số tiền này. Tại phiên toà hôm nay ông C không nhất trí bù trừ nghĩa vụ, do vậy cần buộc ông H trả đủ số tiền còn nợ cho ông C và bà H1 phải trả đủ số tiền còn nợ cho ông H.
[5]. Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông H, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
10
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn H sửa bản án sơ thẩm số 02/2025/DS - ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông Nguyễn Văn H phải trả số tiền thuê thiết bị từ ngày 11/10/2022 đến 27/02/2023 do ông C rút yêu cầu khởi kiện.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Quang C về việc buộc ông Nguyễn Văn H phải trả số tiền 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng) là tiền bộ vật tư tồn kho do ông H đã bán, vì ông C rút yêu cầu khởi kiện.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Nguyễn Văn H về việc buộc ông Nguyễn Quang C đã phá hợp đồng trước 04 ngày, gây ra thiệt hại cho ông không sản xuất được, tổng thiệt hại 560.000.000đ (năm trăm sáu mươi triệu đồng), do ông H rút yêu cầu khởi kiện.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang C, buộc ông Nguyễn Văn H còn phải trả cho ông Nguyễn Quang C khoản tiền thuê thiết bị theo hợp đồng cho thuê ngày 01/06/2022 là 142.500.000đ (một trăm bốn mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H về việc đối trừ khoản tiền hàng của bà Nguyễn Thị Thu H1 vợ ông Nguyễn Quang C.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền đá còn nợ của ông H từ ngày 11/11/2022 đến ngày 05/03/2023, với tổng số tiền: 107.615.000đ (một trăm linh bẩy triệu, sáu trăm mười lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6. Về án phí:
6.1. Về án phí sơ thẩm:
- - Ông Nguyễn Quang C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông C số tiền đã nộp tạm ứng án phí 9.650.000đ (chín triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002698 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H do là người cao tuổi.
- - Bà Nguyễn Thị Thu H1 phải chịu 5.380.000đ (năm triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm).
6.2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn
11
H do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Quế |
Bản án số 99/2025/DS - PT ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Số bản án: 99/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn H. Sửa bản án sơ thẩm
