Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:99/2025/DS-PT

Ngày:24/02/2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Ông Chu Tuấn Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Phương- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 597/2024/TLPT-DS ngày 16/12/2024, về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án số 198/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐ-PT ngày 06/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2025/QĐPT-HPT ngày 17/02/2025; giữa:

* Nguyên đơn: Ông Doãn Tiến H, sinh năm 1966

Nơi đăng ký HKTT tại: Tổ dân phố X, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1970; HKTT tại: Tổ A C phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ liên hệ: Số A, Ngõ H phố H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. ( Có mặt).

* Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1964

Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1971

Cùng có Nơi đăng ký HKTT: Tổ 3, tổ dân phố X, thị trấn X, huyện C thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Hoàng L, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số 64i, ngách B, ngõ A, đường Q, cụm D,tổ7, Phường L, quận H, Hà Nội. ( Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội
  2. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Anh Đ – Chủ tịch

    Người được ủy quyền: ông Nguyễn Tiến H1- Chuyên viên Phòng tài nguyên và Môi trường huyện C.( Vắng mặt).

    Địa chỉ: Khu B, thị trấn C, C, Hà Nội.

  3. Ngân hàng N1 (A1).
  4. Trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

    Đại diện ủy quyền Ngân hàng N1 – Chi nhánh L1

    Người được ủy quyền: ông Đặng Văn T1, ông Phạm Anh D

    ( Có mặt).

  5. UBND thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội.
  6. Người đại diện theo pháp luật: ông Phùng Xuân H2 - Chủ tịch

    Người được ủy quyền: ông Nguyễn Thanh B1- Phó chủ tịch

    Địa chỉ: Thị Trấn X, huyện C, Hà Nội.

    ( Vắng mặt).

  7. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991
  8. HKTT: Thôn 3 Phú Cát, huyện Quốc Oai, Hà Nội;

    Nơi ở: Số nhà 7, tổ dân phố 3, khu Xuân Hà, thị trấn Xuân Mai, C, Hà Nội.( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng đại diện ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày: Năm 1993, tôi nhận chuyển nhượng của ông Bạch Kim P, 47 tuổi, địa chỉ Khu phố C, Thị trấn X, tỉnh Hà Tây (cũ) nay là Hà Nội ngôi nhà 38 m² 01 tầng, nửa mái bằng nửa mái lợp tạm xi măng, nằm trên thửa đất có diện tích 160 m². Trong đó có 3 cây mít, 01 cây xoài nam bộ, cùng một số tre, hóp. Mảnh đất và ngôi nhà nằm trên trục đường B X - S.

Đông giáp: Vườn ao nhà ông Thích

Tây giáp: Đường C (Đường B)

Nam giáp: Nhà ông Hưng

Bắc giáp: Tường bao nhà ông Thích

Giá chuyển nhượng 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu đồng), tôi đã gao đủ và ông Bạch Kim P đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng. Ông Bạch Kim P đã bàn giao và tôi đã quản lí và sử dụng nhà đất.

Giấy chuyển nhượng nhà ở nêu trên được UBND thị trấn X, huyện C xác nhận ngày 18 tháng 5 năm 1994.

Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình tôi quản lí và sử dụng. Năm 1995 ông T, bà B bị vỡ nợ không còn chỗ ở, do thương hoàn cảnh vỡ nợ của ông T, bà B. Năm 1996, tôi cho ông T, bà B mượn ngôi nhà nên trên để ông T, bà B ở nhờ và kinh doanh. Năm 2016, ông T, bà B trả lại nhà cho tôi.

Ngày 01/03/2016, tôi đã ký Hợp đồng thuê nhà cho bà Nguyễn Thị N. HKTT: Thôn P, xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội để ở và kinh doanh, giá thuê là 10.000.000 đồng/ tháng, bà N vẫn trả tiền thuê nhà cho tôi và gần đây bà N không trả tiền thuê nhà cho tôi mà trả tiền thuê nhà cho người khác.

Năm 2016, tôi đi đóng thuế sử dụng đất lúc đó tôi mới biết được nhà đất của tôi đứng tên chủ sử dụng là ông Phạm Văn T. Chúng tôi có tranh chấp về quyền sử dụng đất từ năm đó cho đến năm 2020 Văn phòng Đ1 – Chi nhánh huyện C cung cấp hồ sơ cho tôi mới biết ngày 05/05/1999 ông Phạm Văn T tự ý lập Đơn xin chuyển nhượng lại nhà ở với nội dung. Tôi Doãn Tiến H 37 tuổi (trong khi tôi sinh năm 1966 đến năm 1999 tôi mới 35 tuổi) sai địa chỉ cư trú của tôi, đã chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T, vợ Nguyễn Thị B ngôi nhà cấp 4 cộng với một số cây cối và hoa màu có vị trí:

Đông giáp: Vườn ao nhà ông Thích

Tây giáp: Đường C (Đường B)

Nam giáp: Nhà ông Hưng

Bắc giáp: Tường bao nhà ông T2

Trong giấy không ghi giá tiền chuyển nhượng, có chữ kí và họ tên tôi trong Đơn xin chuyển nhượng này, tôi không chuyển nhượng nhà đất nêu trên cho ông T, bà B, chữ ký và chữ viết trong đơn xin chuyển nhượng không phải chữ ký và chữ viết của tôi.

Ngày 18/08/2008, Phạm Văn T, vợ Nguyễn Thị B tiến hành kê khai tài sản xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

Ngày 26/12/2008, UBND huyện C, Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: A0 040147, thửa đất số 17, tờ bản đồ số 43, diện tích đo thực tế 193,6m² đất vườn, địa chỉ TD P, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội. Đứng tên người sử dụng đất: Ông Phạm Văn T, và bà Nguyễn Thị B.

Năm 2008, ông Phạm Văn T, và bà Nguyễn Thị B được UBND huyện C, Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất tôi nhận chuyển nhượng của ông Bạch Kim P tôi hoàn toàn không biết. Năm 2016, tôi vẫn ký Hợp đồng cho bà Nguyễn Thị N thuê nhà vẫn nhận tiền cho thuê nhà của bà N.

Tôi đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Hủy đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở đề ngày 05/05/1999 giữa bên chuyển nhượng Doãn Tiến H với bên nhận chuyển nhượng Phạm Văn T và vợ Nguyễn Thị B. Vì giấy tờ giả chữ viết, chữ ký trong đơn xin chuyển nhượng không phải là của tôi.
  2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đâtsố: A0040147, thửa đất số: 17 tờ bản đồ số 43, diện tích đo thực tế 193,6m2 trong đó 100m2 đất ở và 93,6m2 đất vườn địa chỉ: khu phố T, huyện C, thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội cấp ngày 26/12/2008, đứng tên người sử dụng đấtông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B, quy trình, trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật.
  3. Công nhận thửa đất số: 17, tờ bản đồ số 43, diện tích đo thực tế 193,6m² đất vườn, địa chỉ TD P, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội là của tôi Doãn Tiến H.

*Bị đơn ông Phạm Văn T và Nguyễn Thị B do người đại diện ủy quyền ông Vũ Hoàng L trình bày: Năm 1998, vợ chồng ông T có thỏa thuận với vợ chồng ông Doãn Tiến H (vợ là bà T3) ở khu X, X, Hà Nội về việc mua thửa đất ở khu Phố, thị trấn X có diện tích là 193,6 m2 với giá là 220 triệu đồng, trên đất có xây dựng một căn nhà cấp 4 lợp brô xi măng diện tích khoảng 16 m2. Việc chuyển nhượng nhà, đất có ông Phạm Văn T4 ở L, Hòa Bình và ông Nguyễn Ngọc O ở thị trấn X biết.

Đến đầu năm 1999, vợ chồng ông T đã trả đủ số tiền 220 triệu đồng cho vợ chồng ông Doãn Tiến H.

Ngày 05/05/1999, vợ chồng ông Doãn Tiến H đã đưa cho vợ chồng ông T 01 đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở đối với mảnh đất trên. Trong đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở đã có chữ ký của ông Doãn Tiến H.

Một thời gian sau, hai bên đã mang đơn và Hợp đồng chuyển nhượng đến UBND thị trấn X và được ông Phạm Văn H3, chủ tịch UBND thị trấn X ký chứng thực.

Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất trên, vợ chồng ông T đã dỡ bỏ căn nhà cấp 4 có diện tích 16 m2, san lấp mặt bằng, dựng nhà xưởng khung sắt thép, xây gạch chỉ, lợp mái tôn, diện tích khoảng 193 m2 để kinh doanh.

Năm 2008, vợ chồng ông T có làm hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Doãn Tiến H. Quá trình làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng ông T đã nộp lại bản gốc Giấy tờ chuyển nhượng cho UBND thị trấn X để làm thủ tục.

Cuối năm 2008, gia đình ông T đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 040147 ngày 26/12/2008.

Đến khoảng năm 2011, 2012 vợ chồng ông T có nhận chuyển nhượng thêm diện tích đất của ông Quân H4 (diện tích này ông Quân H4 đã nhận chuyển nhượng của ông H5, nằm phía nam giáp thửa đất của vợ chồng ông T đã nhận chuyển nhượng từ ông Doãn Tiến H). Sau đó vợ chồng ông T đã tháo phần công trình ngăn cách giữa hai thửa đất để cho thuê.

Năm 2009, vợ chồng ông bà T-Bảy đã thế chấp quyền sử dụng đất kể trên tại Ngân hàng A1.

Từ 01/01/2014 đến nay, vợ chồng ông bà T-Bảy cho chị Nguyễn Thị N – số điện thoại: 0963.333.xxx thuê để kinh doanh.

Vợ chồng ông bà T-Bảy xin khẳng định đã nhận chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 17, tờ bản đồ số 43, địa chỉ: Khu Phố, thị trấn X, huyện C, Thành phố Hà Nội có diện tích 193,6 m2 từ vợ chồng ông Doãn Tiến H, đã trả đầy đủ 220 triệu tiền chuyển nhượng. Sự việc được rất nhiều người làm chứng, biết đến, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận.

Tôi cam đoan lời khai trên là đúng sự thật, nếu sai xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà Nguyễn Thị N tôi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Doãn Tiến H và ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B. Hiện nay tôi đang kinh doanh lẩu nướng theo địa chỉ số G tổ C khu X, Thị trấn X, C Mỹ H. Theo hợp đồng thuê kinh doanh lẩu nướng với ông Phạm Văn T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị B sinh năm 1971; có hộ khẩu thường trú tại tổ C khu X, Thị trấn X Mỹ Hà Nội. Tôi thuê kinh doanh từ năm 2014 đến nay ngoài ra tôi không thuê của ai khác. Do công việc bận kinh doanh rất bận nên đề nghị Tòa án cho tôi từ chối tham gia nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho đến khi kết thúc vụ án, tôi cam kết những sự việc trình bày trên là đúng có gì sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N1- Chi nhánh L1 trình bày: Thửa đất số 17 tờ bản đồ số 43, diện tích 193,6m2; địa chỉ: khu phố T, huyện C, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0040147 do UBND huyện C cấp ngày 26/12/2008 đứng tên hộ ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B. Hiện đang được thế chấp tại Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất kèm theo tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba số công chứng số 381, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD được công chứng viên văn Phòng C, thành phố Hà Nội công chứng ngày 06/03/2009, để đảm bảo khoản vay của Công ty TNHH H7 tại A1 chi nhánh S ( nay là A1 chi nhánh H8 ).

Khoản vay của Công ty TNHH H7 đã được bàn giao từ A1 chi nhánh H8 về Al theo thông báo số 6434/NHNo-XLRR ngày 29/7/2019 của tổng Giám đốc A1 về việc phê duyệt danh mục các khoản nợ xấu bàn giao cho Chi nhánh đầu mối xử lý nợ.

Do Công ty TNHH H7 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, A1 đã khởi kiện và có bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Hà Nội số 17/2014/KDTM-ST ngày 30/9/2014 và bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội số 44/2015/KDTM-ST ngày 15/05/2015.

Hiện tài sản trên đang được Chi cục thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội tổ chức thi hành án theo đơn yêu cầu số 456/QĐ-CCTHA ngày 22/02/2016.

Tại bản án số 198/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Doãn Tiến H đối với ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 11/10/2024 ông Doãn Tiến H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 198/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa Nguyên đơn ông Doãn Tiến H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Doãn Tiến H. Tuy nhiên về án phí Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Doãn Tiến H phải chịu 119.616.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm mà không đối trừ 13.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001754 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội là không đúng. Do vậy căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự sủa bản án dân sự sơ thẩm về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn là ông Doãn Tiến H làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, nhưng tại phiên tòa hôm nay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội; Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội; chị Nguyễn Thị N đều vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm xác định Ngân hàng N1 – chi nhánh L1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác, bởi lẽ tài sản đang tranh chấp Bị đơn đã thế chấp cho Ngân hàng N1. Do vậy cần phải xác định Ngân hàng N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N1 đã có đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành tiếp tục giải quyết vụ án và xin được tham gia luôn tại cấp phúc thẩm và không có ý kiến gì về việc Tòa sơ thẩm không đưa Ngân hàng N1 vào tham gia tố tụng. Do vậy để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự nên sửa án sơ thẩm xác định Ngân hàng N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đại diện theo ủy quyền là Ngân hàng N1 – chi nhánh L1, do ông Đặng Văn T1, ông Phạm Anh D đại diện theo ủy quyền.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn ông Doãn Tiến H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo ông T, bà B trình bày thì: Nguồn gốc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 43, diện tích đo thực tế là 193,6m2 đất vườn, tại địa chỉ tổ dân phố X, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội, trước năm 1993 do ông Doãn Kiến H6 quản lý sử dụng. Năm 1999 ông H6 chuyển nhượng thửa đất này cho ông Phạm Văn T, việc chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng và có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn X ngày 22/10/1999. Sau khi mua gia đình ông T, bà B đã sống ổn định trên thửa đấn này. Quá trình quản lý sử dụng gia đình ông T, bà B đã phá nhà cấp 4 đi và san lấp mặt bằng, dựng nhà xưởng như hiện nay để kinh doanh. Ngày 18/8/2008 vợ chồng ông T, bà B đã làm thủ tục kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 26/12/2008 Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 040147.

Năm 2009 vợ chồng ông T, bà B đã thế chấp toàn bộ diện tích nhà đất trên cho Ngân hàng N1 để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH H7.

Năm 2011,2012 vợ chồng ông T, bà B mua thêm phần diện tích đất của ông Q, bà H4 nằm phía nam giáp thửa đất số 17, tờ bản đồ số 43. Sau khi mua vợ chồng ông T, bà B đã tháo dỡ công trình ngăn cách giữa hai thửa đất để cho thuê. Cụ thể vợ chồng ông T, bà B cho chị Nguyễn Thị N thuê từ năm 2014 cho đến nay.

Theo ông Doãn Tiến H trình bày thì: nguồn gốc đất đang tranh chấp là năm 1993 ông mua của ông Bạch Kim P, 47 tuổi, địa chỉ Khu phố C, Thị trấn X, tỉnh Hà Tây (cũ) nay là Hà Nội, trên đất có nhà 01 tầng 38 m², nửa mái bằng nửa mái lợp tạm xi măng, nằm trên thửa đất có diện tích 160 m² và có 3 cây mít, 01 cây xoài nam bộ, cùng một số tre, hóp; Giá chuyển nhượng 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu đồng). Việc chuyển nhượng hai bên có lập giấy chuyển nhượng và có xác nhận của UBND thị trấn X, huyện C ngày 18 tháng 5 năm 1994. Ông Bạch Kim P đã bàn giao nhà đất cho ông và ông đã quản lí và sử dụng nhà đất. Do ông T, bà B bị vỡ nợ nên năm 1996 ông cho vợ chồng ông T, bà B mượn nhà đất trên để ở và kinh doanh. Năm 2016 ông ký Hợp đồng cho chị Nguyễn Thị N thuê nhà.

Ông H cho rằng đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở đề ngày 05/05/1999 giữa bên chuyển nhượng Doãn Tiến H với bên nhận chuyển nhượng Phạm Văn T và vợ Nguyễn Thị B là giấy giả vì chữ viết, chữ ký trong đơn xin chuyển nhượng không phải là của ông, do vậy ông đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban đã cấp cho ông T, bà B.

Hội đồng xét xử xét thấy: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Doãn Tiến H không xuất trình được các tài liệu chứng cứ chứng minh về tài sản trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông và ông cho ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B mượn; chữ viết chữ ký trong đơn xin chuyển nhượng ngày 05/5/1999 là giả mạo, không phải là chữ viết chữ ký của ông H.

Xét thấy, các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện:

Tại bản tự khai của bà Nguyễn Thị N (BL114) có nội dung: “... Hiện bà đang kinh doanh lẩu nướng tại địa chỉ số G tổ C khu X, thị trấn X, C, Hà Nội theo hợp đồng thuê kinh doanh lẩu nướng với ông Phạm Văn T sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị B sinh năm 1971 có hộ khẩu thường trú tại tổ C Khu X, thị trấn X, C, Hà Nội. Tôi thuê kinh doanh từ năm 2014 đến nay ngoài ra tôi không thuê của ai khác....".

Quá trình quản lý sử dụng nhà đất từ đó cho đến nay ông T là người nộp thuế đất.

Tại biên bản xác minh ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội ( BL 128) Ủy ban nhân dân thị trấn X cho biết:

“ Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 43, diện tích đo thực tế 193,6m2 đất vườn, địa chỉ tổ dân phố X, thị trấn X, huyện C, thành phố Hà Nội cấp cho ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B. Nguồn gốc trước năm 1995 do ông Doãn Kiến H6 sử dụng sau đó chuyển nhượng cho ông Phạm Văn T tháng 10/1999 có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn X. Thửa đất sử dụng ổn định và không có tranh chấp với ai ...". Ngoài ra Ủy ban nhân dân thị trấn X và phòng tài nguyên môi trường huyện C còn cung cấp toàn bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như :

  • - Quyết định số 3512/QĐUBND ngày 26/12/2008.
  • - Tờ trình số 15 TTR-UBND ngày 22/10/2008
  • - Biên bản công ngày 8/7/2008
  • - Biên bản kết thúc công khai ngày 01/8/2028
  • - Biên bản công khai ngày 26/9/2008
  • - Biên bản kết thúc công khai ngày 20/10/2008
  • - Danh sách đề nghị cấp GCNQSDĐ ở khu phố T ngày 26/12/2008

Đơn xin xác nhận cấp GCNQSDĐ ngày 18/8/2008 của ông Phạm Văn T, có xác nhận của UBND thị trấn X.

- Biên bản xác nhận kích thước thửa đất ngày 19/03/2008.

Mặt khác, tại kết luận số 258/KL-UBND ngày 28/9/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C đã kết luận: “... Tai đơn xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 8/8/2008 có thể hiện hộ ông Phạm Văn T đã nộp kèm theo đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có biên bản xác nhận kích thước thửa đất và giấy chuyển nhượng. Phòng Tài nguyên và môi trường huyện cũng đã khẳng định “ Tại thời điểm năm 2008 phòng tài nguyên và môi trường huyện có tiếp nhận đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Phạm Văn T đã kế khai ngày 08/8/2008 kèm theo đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở bản gốc, biên bản xác nhận kích thước thửa đất bản gốc...”. Kết quả xác minh với ông Phạm Văn H3 – nguyên chủ tịch UBND thị trấn X đã khẳng định có sự việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Doãn Tiến H và ông Phạm Văn T khu phố, thị trấn X; chữ ký và việc xác nhận của ông H3 trong đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở là đúng. Kết quả xác minh với người có liên quan đều khẳng định có sự mua bán chuyển nhượng thửa đất tại khu phố T giữa người mua là ông Phạm Văn T và người chuyển nhượng là ông Doãn Tiến H. Như vậy có cơ sở để khẳng định có bản gốc đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở nêu trên. Tuy nhiên hiện nay bản gốc Đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở đã bị thất lạc, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện chưa tiến hành giám định được chữ ký, chưa có cơ sở kết luận Đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở ghi ngày 05/5/1999 trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả mạo như nội dung tố giác tội phạm đã được thụ lý và ý kiến người tố cáo nêu.....”.

Tại thông báo số 335/TB-CQĐT ngày 04/8/2023 của Cơ quan điều tra - Công an huyện C có nội dung: “... Phòng tài nguyên môi trường huyện C không cung cấp được bản gốc ( bản chính) “ Đơn xin chuyển nhượng nhà ở và đất ở” giữa người mua là ông Phạm Văn T sinh năm 1964 ở TDP X, thị trấn X, C, Hà Nội và người chuyển nhượng là ông Doãn Tiến H sinh năm 1966 ở TDP X, thị trấn X, C, Hà Nội, được UBND thị trấn X xác nhận ngày 22/10/1999. Do tài liệu đã bị thất lạc, nên không có tài liệu để giám định xác định có tài liệu có bị làm giả hay không, do đó không có cơ sở xử lý đối với vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Nguyễn Thị B về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vụ việc không có dấu hiệu tội phạm hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với tố giác về tộ phạm “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xảy ra ngày 26/12/2008, tại tổ dân phố X, thị trấn X, C, Hà Nội...”.

Hơn nữa, tại bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 44/2015/KDTM-PT ngày 15/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật tại trang 18 của bản án đã xác định nguồn gốc hai thửa đất ông T, bà B thế chấp cho Ngân hàng đều có nguồn gốc do ông bà chuyển nhượng từ năm 1999 và bản án đã quyết định: “... Trường hợp Công ty TNHH H7 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ đối với các tài sản là:

Quyền sử dụng thửa đất số 17, tờ bản đồ số 13, diện tích 193,6m2 tại khu phố T, huyện C, Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 040147 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01685 ngày 26/12/2008 được UBND huyện C cấp mang tên người sử dụng đất là hộ ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B. Theo hợp đồng thế chấp số 381HĐ/CC ngày 06/3/2009 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 532HĐ/CC ngày 04/4/2011 tại phòng C1 với nghĩa vụ được đảm bảo bao gồm nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn của số tiền vay 7.857.000.000đ.....”.

Từ những căn cứ trên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Doãn Tiến H đối với ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, nên được chấp nhận.

Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Doãn Tiến H. Tuy nhiên về án phí Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Doãn Tiến H phải chịu 119.616.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm mà không đối trừ 13.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001754 ngày 23/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội là không đúng, do đó cần phải sửa án sơ thẩm về phần án phí.

* Về án phí: Do sửa án sơ thẩm, nên ông Doãn Tiến H không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; Điều 296; khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điều 263, Điều 264, Điều 265 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 155, Điều 163, Điều 164 Bộ luật dân sự 2015; Điều 3, Điều 36, Điều 38, Điều 73 Luật Đất đai 1993;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Sửa bản án sơ thẩm số 198/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, thành phố Hà Nội.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Doãn Tiến H đối với ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị B.
  3. Về án phí:
    • + Án phí sơ thẩm: Ông Doãn Tiến H phải chịu 119.616.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ đi 13.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001754 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, Hà Nội. Ông H còn phải nộp 105.916.000 đồng.
    • + Án phí phúc thẩm: Hoàn trả ông Doãn Tiến H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0061935 ngày 23/10/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện C, thành phố Hà Nội.
  4. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGÔ TUYẾT BĂNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2025/DS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 99/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông H và bị đơn là ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger