Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25 – 9 – 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hường
  2. Bà Mai Thị Huyền Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đồng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/9/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 17/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trượng Thị Diệu H, sinh năm 1995. (có mặt)
  2. Bị đơn: Ông Đàng Ngọc T, sinh năm 1986. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2024 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trượng Thị Diệu H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Đàng Ngọc T chung sống với nhau tự nguyện từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 13/8/2013. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông T không quan tâm vợ con. Hiện ông T đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ sống từ năm 2023, vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không quan tâm thăm hỏi nhau. Nay tình cảm của bà với ông T không còn, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có một người con chung là cháu Đàng Năng Ru B, sinh 04/02/2012 hiện đang sống với bà, bà yêu cầu tiếp tục được nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết bị đơn ông Đàng Ngọc T vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Nên ông T không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Bà Trượng Thị Diệu H và ông Đàng Ngọc T chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sống ly thân, không quan tâm nhau. Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trượng Thị Diệu H. Về con chung: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, bị đơn vắng mặt không có ý kiến về con chung, hiện cháu Đàng Năng Ru B đang sống với bà H và được bà H chăm sóc tốt, xét nguyện vọng của cháu Ru B được sống với mẹ. Nên giao con chung Đàng Năng Ru B cho bà Trượng Thị Diệu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Trượng Thị Diệu H khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xin ly hôn và yêu cầu giải quyết con chung với ông Đàng Ngọc Tân T1 tại thôn H, xã P, huyện N. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là ông Đàng Ngọc T trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên họp, hòa giải đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù có mặt tại địa phương và được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông T cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định của pháp luật.

[2] Nội dung khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị Diệu H và ông Đàng Ngọc T chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N ngày 13/8/2013 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do không phù hợp về quan điểm sống, ông T bỏ mặc không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Mặt khác, ông T đã được thông báo và biết được việc khởi kiện cũng như các nội dung yêu cầu của bà H, nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại Tòa án, từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chứng tỏ ông T không còn quan tâm, không muốn hàn gắn lại tình cảm với bà H làm cho hôn nhân vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H đề nghị được ly hôn với ông T là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Trượng Thị Diệu H và ông Đàng Ngọc T có một người con chung là cháu Đàng Năng Ru B, sinh 04/02/2012 hiện đang sống với bà H. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông T vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu về con chung của bà H, mặt khác các cháu Ru B đang sống với bà H và được bà H chăm sóc tốt, nguyện vọng của cháu Ru B được sống với mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Đàng Năng Ru B cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của bà H.

[3] Về án phí:

Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trượng Thị Diệu H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị Diệu H được ly hôn với ông Đàng Ngọc T.
  2. Về con chung: Giao cháu Đàng Năng Ru B, sinh 04/02/2012 cho bà Trượng Thị Diệu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đàng Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trượng Thị Diệu H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004448, ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà H đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2024), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phước Thái;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 99/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Hảo ly hôn ông Tân
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger