|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 99/2024/HSST Ngày: 18-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân: ông Tô Duy Tòng
bà Vũ Thị Lâm
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lý- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Nhung- Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trần Văn S. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 25/8/1991 tại huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: thôn H, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: không biết chữ. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Con ông Trần Văn V và bà Phùng Thị L. Vợ: Bùi Thị H, có 03 con. Tiền án, tiền sự: chưa. Bị bắt ngày 15/6/2024, tạm giam đến ngày 10/7/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại, có mặt.
- Trần Văn Q. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 09/8/1998 tại huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Con ông Trần Văn B và bà Bùi Thị V1. Vợ: Lý Thị N, có 01 con. Tiền án, tiền sự: chưa. Bị bắt ngày 15/6/2024, tạm giam đến ngày 10/7/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại, có mặt.
*Bị hại: Đào Thị Hồng Y- sinh năm 1985. Trú tại: khu C phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn xin xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Văn H1, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 56 phút ngày 14/6/2024, tại khu vực cổng G5 của công ty TNHH K (TCL) thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn S và Trần Văn Q có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14X1-430.37 trị giá 13.300.000đồng (mười ba triệu ba trăm nghìn đồng) của chị Đào Thị Hồng Y.
Tại bản cáo trạng số 1847/CT-VKSQY ngày 21/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố các bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Văn S khai: Bị cáo và bị cáo Trần Văn Q có quan hệ họ hàng, là công nhân thời vụ làm việc tại công ty K thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q. Sáng ngày 14/6/2024 bị cáo đi làm và để xe tại bãi để xe tự phát bên ngoài công ty thì phát hiện 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14X1-430.37 (sau này biết là xe của chị Đào Thị Hồng Y) còn chìa khóa cắm ở xe. Bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp nên rút chìa khóa xe, sau đó bàn với Trần Văn Q đến giờ tan làm sẽ lấy trộm xe, Q đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô Honda AirBlade biển kiểm soát 15B3- 949.04 của em trai là Trần Văn H1 (bị cáo mượn xe đi làm) chở Q từ phòng trọ đến bãi để xe, đưa chìa khóa xe Wave cho Q. Q trực tiếp vào lấy xe, bị cáo ở ngoài cảnh giới. Sau khi Q lấy được xe W, cả hai điều khiển mỗi người một xe đến gửi xe Wave tại nhà để xe Bệnh viện đa khoa huyện T, Hải Phòng rồi trở về, cất chìa khóa xe và đăng ký xe Wave ở nhà trọ.
Đến khoảng 01 giờ ngày 15/6/2024, khi các bị cáo đang ăn đêm tại khu B, phường Đ thì bị công an kiểm tra hành chính, khám xét chỗ ở của Trần Văn Q đã thu giữ đăng ký và chìa khóa xe mô tô biển kiểm soát 14X1-430.37
Bị cáo Trần Văn Q khai: khoảng 8 giờ ngày 14/6/2024 bị cáo đi làm tại công ty K và được S rủ trộm cắp xe máy ở bãi để xe tự phát phía ngoài công ty, do S phát hiện xe mô tô Wave quên không rút chìa khóa, bị cáo đồng ý. Đến 14 giờ 40 phút cùng ngày S chở bị cáo đến bãi để xe, S cảnh giới, bị cáo vào lấy xe rồi cả 2 điều khiển xe sang gửi tại nhà xe Bệnh viện đa khoa huyện T, Hải Phòng, còn giấy đăng ký xe và chìa khóa xe đem về phòng trọ cất, đến khoảng 01 giờ ngày 15/6/2024 bị công an kiểm tra bắt giữ.
Ngoài ra, hai bị cáo còn khai đã bồi thường cho chị Y 10.000.000đồng (mười triệu đồng) trong những ngày không có xe đi làm.
Bị hại Đào Thị Hồng Y khai: khoảng 8 giờ ngày 14/6/2024 chị điều khiển xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14X1-430.37 (mang tên chồng chị là Nguyễn Trường V2 ) để đi làm tại công ty K. Chị để xe ở ngoài vỉa hè, gần cổng công ty K, không có người trông coi xe. Do sơ suất nên chị không rút chìa khóa xe. Đến 17 giờ cùng ngày hết giờ làm chị mới phát hiện bị mất xe nên trình báo công an. Quá trình điều tra, chị đã nhận lại xe và đăng ký xe, đã được các bị cáo bồi thường
3
10.000.000đồng tiền những ngày không có xe đi làm, chị không yêu cầu bồi thường gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Anh Trần Văn H1 khai: Anh là chủ sở hữu xe mô tô Honda AirBlade biển kiểm soát 15B3- 949.04, có cho anh trai là Trần Văn S mượn đi làm, anh không biết S dùng xe vào việc phạm tội, đã nhận lại xe, không yêu cầu gì.
Bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-ĐGTS ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: giá trị của xe Honda Wave biển kiểm soát 14X1- 430.37 là 13.300.000đồng (mười ba triệu ba trăm nghìn đồng).
Kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường xác định hiện trường xảy ra vụ việc là khu vực vỉa hè gần cổng số 5 của công ty K thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q.
Biên bản khám xét chỗ ở của Trần Văn Q hồi 03 giờ 10 phút ngày 15/6/2024 của Công an thị xã Q thu giữ 01 đăng ký xe mô tô số 14002561 mang tên Nguyễn Trường V2 đối với xe Honda Wave biển kiểm soát 14X1-430.37 và 01 chìa khóa xe.
Kết quả trích xuất camera, bị cáo S xác nhận hình ảnh trong video: bị cáo là người mặc áo cộc tay tối màu, quần sooc, điều khiển xe AirBlade; Quyết mặc sơ mi dài tay màu trắng, quần sooc, thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của chị Y.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 17, điều 58; khoản 1, 2, 5 điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q mỗi bị cáo từ 09(chín) tháng tù đến 12(mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Các bị cáo không tranh luận với quan điểm Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đã lợi dụng sơ hở tại khu vực để xe tự phát, không có người trông coi để thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô của chị Đào Thị Hồng Y. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét chỗ ở và vật chứng thu giữ..., trên cơ sở kết quả định giá tài sản, thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 56 phút ngày 14/6/2024, tại khu vực cổng G5 của công ty TNHH K (TCL) thuộc khu công nghiệp Đ, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn S và Trần Văn Q có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 14X1- 430.37 trị giá 13.300.000đồng (mười ba triệu ba trăm nghìn đồng) của chị Đào Thị Hồng Y.
4
Hành vi của các bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an, đặc biệt là ở khu công nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của công nhân lao động. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, lười lao động, ham lời bất chính nên vẫn vi phạm. Do đó cần thiết phải xử lý nghiêm.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có vai trò ngang nhau, trong đó, bị cáo S có vai trò khởi xướng, rủ rê; bị cáo Q giữ vai trò thực hành, tiếp nhận ý chí của S.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 10.000.000đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đảm bảo khách quan, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về bồi thường dân sự và vật chứng: bị hại đã được bồi thường, khắc phục hậu quả, không yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng của vụ án: Xe mô tô Honda Wave 14X1-430.37 đã thu hồi trả cho bị hại. Xe mô tô Honda AirBlade biển kiểm soát 15B3- 949.04 đã trả cho chủ sở hữu Trần Văn H1.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Trần Văn S, Trần Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Trần Văn S 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trần Văn Q 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục
5
các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ các Quyết định bảo lĩnh số 10/2024/QĐ-TA-HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 và số 11/2024/QĐ-TA-HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên và hủy các quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 84/2024/QĐ-TA ngày 23 tháng 8 năm 2024 và số 85/2024/QĐ-TA ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên đối với các bị cáo Trần Văn Q.Trần Văn S.
Áp dụng điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Văn S, Trần Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Vũ Thị Lâm Tô Duy Tòng |
Đỗ Thị D |
6
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Duyên |
Bản án số 99/2024/HSST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 99/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần VĂn Sơn cùng đồng phạm- Trộm cắp tài sản
