|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/HSST
Ngày 30 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Phan Thị Nhung.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hương là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn T, sinh năm 1969; sinh trú quán: Tổ dân phố Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn Q (đã chết) và bà Đào Thị T1 (đã chết); không có vợ nhưng có 01 con ngoài giá thú sinh năm 2000; tiền sự: Không.
Tiền án: có 03 tiền án.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/1994/HSST ngày 27/01/1994, T bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, xử phạt 05 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”. Ngày 23/7/1994, T đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và nộp án phí nên vẫn chưa được xóa án tích.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/1995/HSST ngày 24/8/1995, T bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 12 tháng tù về tội “Tổ chức dùng chất ma túy”. Ngày 10/7/1996, T đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và nộp án phí nên vẫn chưa được xóa án tích.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2000/HSST ngày 26/6/2000, T bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 04 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 27/01/2004, T đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành
xong hình phạt bổ sung và nộp án phí nên vẫn chưa được xóa án tích.
- Về nhân thân:
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/1997/HSST ngày 22/5/1997, T bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 06/12/1999, T đã chấp hành xong hình phạt tù đến nay đã được xóa án tích.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2004/HSST ngày 18/8/2004, T bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (cũ) nay là thành phố P xử phạt 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 05/11/2006, T đã chấp hành xong hình phạt tù đến nay đã được xóa án tích.
+ Tại Quyết định số: 1362/QĐ - UBND ngày 18/8/2008, T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã P (cũ) nay là thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc bắt buộc đi tập trung cai nghiện tại Trung tâm F tỉnh Vĩnh Phúc với thời hạn 02 ( Hai) năm. Đến ngày 19/9/2010, T đã chấp hành xong.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 112/2011/HSST ngày 14/10/2011, T bị Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên (cũ) nay là thành phố P xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 18/12/2018, T đã chấp hành xong hình phạt tù đến nay đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/4/2024, T đang đi lang thang tại khu vực K, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp và mua của một người đàn ông, T không rõ danh tính, địa chỉ cụ thể 01 gói giấy bạc bên trong nghi ngờ có chứa ma túy Heroine với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vừa mua được vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T đi đến một quán nước thuộc địa phận tổ dân phố T, phường T, thành phố P thì bị tổ tuần tra của Công an phường T, thành phố P kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Tang vật thu được gồm: Thu giữ tại túi áo khoác đang mặc bên trái của Đinh Văn T 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa các chất cục bột màu trắng, được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu mẫu A1 = 0,1395g và 01 chai nhựa có nắp đựng nước tiểu của T đậy kín được niêm phong.
Tại kết luận giám định số: 995/KL – KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:
“Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1395g (Không phảy một ba chín năm gam, không kể bao bì), là loại Heroine".
Tại kết luận giám định số: 1009/KL - KTHS ngày 13/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Đinh Văn T, kết luận:
“Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu được của Đinh Văn T gửi đến giám định”.
Vật chứng của vụ án gồm có: 01 bao gói niêm phong mẫu vật ký hiệu “MẪU TRẢ VỤ 899” A1 = 0,0993g do Cơ quan giám định hoàn trả lại sau khi giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các nội dung đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 99/CT - VKSPY ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các vật chứng đã thu giữ được. Từ đó có đủ cơ sở để xác định, bị cáo Đinh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố của mình đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Đinh Văn T từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Kiểm sát viên còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đinh Văn T không có ý kiến gì tham gia tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và không có ý kiến
hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có kiến nghị hay khắc phục gì.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đinh Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các vật chứng đã thu được và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 08/4/2024, tại tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Tổ tuần tra của Công an phường T, thành phố P đã phát hiện và bắt quả tang Đinh Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng = 0,1395g để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra đã làm rõ, trước khi phạm tội T đã nhiều lần có hành vi tổ chức sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và bị các Tòa án xét xử về các hành vi tổ chức sử dụng, tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy, nhiều bản án đến nay vẫn chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này của T được xác định là hành vi tái phạm nguy hiểm và là tình tiết định khung đối với T.
Với hành vi trên của Đinh Văn T đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ....
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phạt tù từ 05 năm đến 10 năm;
o) Tái phạm nguy hiểm”.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất
bình trong quần chúng nhân dân. Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý đang là tệ nạn xã hội có chiều hướng ngày càng gia tăng, gây nên sự đau khổ bất hạnh cho nhiều gia đình; ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Tội phạm về ma tuý là nguy cơ dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản...ngoài ra nó còn là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến căn bệnh thế kỷ: HIV - AIDS.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình tiết tái phạm nguy hiểm của bị cáo đã được xác định là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là đối tượng bị nghiện ma túy nhiều năm, đến nay vẫn chưa từ bỏ được, nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện và chủ động đi cai nghiện lại là người có nhân thân xấu nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng dăn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, T khai nhận. Do bản thân bị nghiện ma tuý nên khi có nhu cầu sử dụng T đã bắt xe ôm từ phường X đến khu V, xã Đ, huyện B để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T đã mua của một người đàn ông mà T không rõ danh tính, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 300.000₫ nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Do T không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ thì xử lý sau.
[3]. Về xử lý vật chứng của vụ án:
Do bao gói niêm phong ký hiệu “MẪU TRẢ 899” A1 = 0,0993g được Cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do vậy, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, bản thân bị cáo là đối tượng bị nghiện ma túy lâu năm, không có nghề nghiệp, bản thân không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
Bị cáo Đinh Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên./.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: Đinh Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Đinh Văn T 06 (Sáu) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói niêm phong ký hiệu “MẪU TRẢ 899” A1 = 0,0993g (Không phảy, không chín chín ba gam) do Cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành không còn giá trị sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên và Công an thành phố P ngày 18 tháng 9 năm 2024).
2/ Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Bích Hạnh |
Nơi nhận:
- - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- - Trại Tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- - VKSND thành phố Phúc Yên;
- - Cơ quan CSĐT - CA thành phố Phúc Yên;
- - Cơ quan THA. HS thành phố Phúc Yên;
- - Chi cục THADS thành phố Phúc Yên;
- - UBND xã nơi bị cáo đang cư trú;
- - Lưu HS vụ án; bộ phận theo dõi THA.HS; VT; bị cáo.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Hạnh |
Bản án số 99/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 99/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 11 giờ 00 phút ngày 08/4/2024, tại tổ dân phố Tiền Châu, phường Tiền Châu, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tổ tuần tra của Công an phường Tiền Châu, thành phố Phúc Yên đã phát hiện và bắt quả tang Đinh Văn Thành đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng = 0,1395g để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra đã làm rõ, trước khi phạm tội Thành đã nhiều lần có hành vi tổ chức sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và bị các Tòa án xét xử về các hành vi tổ chức sử dụng, tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy, nhiều bản án đến nay vẫn chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này của Thành được xác định là hành vi tái phạm nguy hiểm và là tình tiết định khung đối với Thành. Với hành vi trên của Đinh Văn Thành đã có đủ cơ sở để khẳng định, bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
