TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 99/2024/HSST Ngày 16 – 8 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và bà Lê Thị Huấn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST – HS ngày 18/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 96/2024/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Văn B, tên gọi khác: Không, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Tạm giữ: Từ ngày 03/5/2024 đến ngày 12/5/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh H, có mặt.
- Bị hại: Anh Hà Văn H, sinh năm 2005, nơi ĐKHKTT: Thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Người đại diện theo ủy quyền: chị Hà Thị H1, sinh năm 2000, nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: Thôn E, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội, đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đoàn Mạnh T1, sinh năm 1990, nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, chỗ ở: Tổ dân phố G, phường P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1988, nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái, chỗ ở: Xóm T, làng G, phường P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Anh Mai Văn C, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/3/2024, tại khu nhà trọ của ông Vũ Đắc T2 - sinh năm 1970 ở Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, anh Hà Văn H – sinh năm 2005 ở thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đến phòng trọ của bạn gái là chị Sa Thị Phương T3 chơi và dựng xe mô tô 36G1 - 255.03 ở sân nhà trọ nhưng vẫn cắm chìa khóa trên xe. Sau đó, anh H đi nhờ xe của bạn là anh Ngân Văn H2 – sinh năm 2005 ở cùng quê đi về nhà trọ của anh H tại Tổ dân phố T, phường B, cách nhà trọ của chị T3 khoảng 300m để có việc, còn xe mô tô 36G1 - 255.03 anh H vẫn để lại tại sân nhà trọ của ông T2. Khoảng 17 giờ ngày 14/3/2024, Nguyễn Văn B – sinh năm 2005 ở thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình hiện thuê trọ tại nhà ông Vũ Đắc T2, thấy xe mô tô 36G1 - 255.03 của anh H đang dựng ở sân và cắm sẵn chìa khóa nên Ba nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô 36G1 - 255.03 để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Ba đeo khẩu trang che mặt rồi dắt xe mô tô 36G1 - 255.03 ra khỏi cổng, khởi động, điều khiển xe đi đến thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh tìm nơi cầm cố. Khoảng 19 giờ ngày 16/3/2024, Ba mang xe mô tô 36G1 - 255.03 đến cửa hàng mua bán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1988 ở Tổ dân phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để cầm cố. Ba nói với anh D “Cho em cầm chiếc xe này”, anh D trả lời “Anh không cầm để anh gọi giúp cho”. Sau đó, anh D gọi điện cho Đoàn Mạnh T1, sinh năm 1990 ở Tổ dân phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đến cửa hàng của mình có việc. Khi T1 đến nơi thì B nói với T1 “Anh cầm cho em chiếc xe này”, T1 hỏi “Em muốn cầm bao nhiêu?”, B nói “Em muốn cầm ba triệu”, T1 hỏi “Xe của ai có giấy tờ không?”, Ba trả lời “Xe của em, giấy tờ em cầm ở cửa hàng khác rồi”. T1 hỏi Ba “Có giấy tờ tuỳ thân không?” thì Ba gửi ảnh căn cước công dân của mình cho T1 qua Z. Sau đó T1 viết giấy cầm cố cho Ba chiếc xe mô tô 36G1 - 255.03, thời hạn là 01 tháng với số tiền là 3.000.000đ và tiền lãi là 450.000đ/tháng rồi T1 chuyển khoản cho Ba số tiền 3.000.000 đồng. Số tiền này B đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/3/2024 anh Hà Văn H đi bộ đến khu trọ của T3 thì phát hiện chiếc xe BKS 36G1 – 255.03 đã bị trộm mất. Ngày 02/5/2024 anh H đã có đơn đền N đến Công an phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vụ việc được chuyển lên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam giải quyết theo quy định của pháp luật.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: Anh Đoàn Mạnh Tâm giao n: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu đen, số IMEI 350408487547789; số IMEI2 350408487706617 đã qua sử dụng, màn hình bị nứt 01 đường kẻ ngang từ trái qua phải; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu sơn xanh – bạc – đen, BKS 36G1 – 255.03, số khung RLCUG0610GY388729, số máy G3D4E407842; Nguyễn Văn B giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12, màu xanh, số IMEI 86640050839797; số IMEI2: 866420050839789, bên trong lắp 2 sim, trên mặt kính điện thoại phần cuối màn hình bị nứt vỡ ở nhiều vị trí.
Tại bản Kết luận định giá tài ản trong tố tụng hình sự số 31/KL – HĐ ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã D kết luận: 01 xe mô tô Exciter 150, màu sơn xanh – bạc – đen, BKS 36G1– 255.03, số khung RLCUG0610GY388729, số máy G3D4E407842 trị giá tài sản là 14.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 36G1 – 255.03 là tài sản hợp pháp của anh Hà Văn H, sinh năm 2005, trú tại Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Tiến hành tra cứu xác định xe mô tô trên không là vật chứng, tang vật của vụ án nào nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô BKS 36G1 – 255.03 cho chị Hà Thị H1, sinh năm 2000, nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, chỗ ở: Thôn E, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội, là người đại diện theo ủy quyền của anh Hà Văn H. Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, số IMEI 350408487547789; số IMEI2 350408487706617 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Đoàn Mạnh T1, sinh năm 1990, nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, chỗ ở: Tổ dân phố G, phường P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H1 đã nhận lại chiếc xe mô tô BKS 36G1 – 255.03 và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đoàn Mạnh T1 không yêu cầu Ba phải trả lại số tiền 3.000.000 đồng đã cầm cố xe mô tô 36G1-255.03.
Cáo trạng số 96/CT – VKS – DT ngày 18/7/2024 cùa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn B mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn B đề nghị HĐXX xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 14/3/2024 tại Tổ dân phố T, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn B đã trộm cắp 01 xe mô tô BKS: 36G1 - 255.03 trị giá 14.000.000₫ của anh Hà Văn H. Sau đó, Ba mang xe mô tô BKS 36G1 - 255.03 đến địa bàn phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cầm cố cho anh Đoàn Mạnh T1 lấy 3.000.000đ để tiêu xài cá nhân.
Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, trước đó bị cáo chưa từng bị đưa ra xét xử lần nào nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những nhận định trên, xét bị cáo là người ham chơi, lười lao động, coi thường pháp luật, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp thực tế và khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Chị Hà Thị H1 và anh Đoàn Mạnh T1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu đen, số IMEI 350408487547789; số IMEI2 350408487706617; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, màu sơn xanh – bạc – đen, BKS 36G1 – 255.03, số khung RLCUG0610GY388729, số máy G3D4E407842: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12, màu xanh, số IMEI 86640050839797; số IMEI2: 866420050839789, bên trong lắp 2 sim, trên mặt kính điện thoại phần cuối màn hình bị nứt vỡ ở nhiều vị trí thu giữ của Nguyễn Văn B: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định đây là tài sản của Nguyễn Văn B, được bị cáo sử dụng làm phương tiện nhận chuyển khoản số tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Về các tình tiết khác:
Đối với Đoàn Mạnh T1: Ngày 16/3/2024, Đoàn Mạnh T1 có hành vi cầm cố xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, BKS: 36G1-255.03 cho Ba vay số tiền 3.000.000 đồng trong thời gian 01 tháng với mức lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày tức 15%/tháng (180%/năm). Hành vi cho vay tiền của T1 đã vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật Dân sự (20%/năm). Tuy nhiên, Ba chưa đưa tiền lãi cho T1, T1 chưa thu lợi bất chính gì từ Ba. Bản thân T1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này và chưa bị kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do vậy hành vi của Đoàn Mạnh T1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, T1 không hứa hẹn, thống nhất từ trước với Ba về việc Ba trộm cắp tài sản. Khi nhận cầm cố xe mô tô cho B, T1 không biết nguồn gốc xe mô tô do Ba vi phạm pháp luật mà có. Vì vậy T1 không đồng phạm với B về tội “Trộm cắp tài sản” và không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 30/5/2024, Chủ tịch UBND thị xã D ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức: Phạt tiền số tiền 12.500.000 đồng đối với Đoàn Mạnh T1 về hành vi không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản theo quy định tại Điểm đ, Khoản 4, Điều 12, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Đức D: Mặc dù có hành vi liên hệ với Đoàn Mạnh T1 để nhờ cầm cố xe mô tô Yamaha Exciter 150 BKS: 36G1-255.03 cho Nguyễn Văn B nhưng anh D không bàn bạc, thống nhất, hứa hẹn từ trước với Ba về việc trộm cắp tài sản và không biết xe mô tô Exciter BKS: 36G1-255.03 là tài sản do Ba trộm cắp mà có nên hành vi của D không đồng phạm với B về tội “Trộm cắp tài sản” và không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C12, màu xanh.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Đông |
Bản án số 99/2024/HSST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 99/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN B PHẠM TỘI "tRỘM CẮP TÀI SẢN"
