Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 99/2024/HSST

Ngày 05 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hương
  2. Ông Nguyễn Hoàng Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lữ Phương Đại – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc H; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 20/9/1993 tại: Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú: Nhà số A đường C, tổ B, ấp C, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; con ông Nguyễn Ngọc H1 và con bà Lê Thị N; chưa có vợ con;

Nhân thân:

Ngày 10/3/2020, tại Bản án số: 150/2020/HSPT, Nguyễn Ngọc H bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã đóng xong án phí. Ngày 29/4/2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền án:

Ngày 13/12/2022 tại Bản án số: 538/2022/HSPT, Nguyễn Ngọc H bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/12/2023, H đã chấp hành xong hình phạt tù;

1

Tiền sự: không.

Tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 8 D, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Nguyễn Hữu Đức P, sinh năm 1987 (Có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Tăng Tự T, sinh năm 1983 (Vắng mặt) Địa chỉ: lô A.712, Chung cư C, số A N, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông Lê Quang T1, sinh năm 1992 (Có đơn xin vắng mặt)
  5. Địa chỉ: A V, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu H2, sinh năm 2001 (Có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: G H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Ông Lê Phước C, sinh năm 2004 (Vắng mặt) Địa chỉ: 2 C, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc H là nhân viên Công ty B” có trụ sở tại địa chỉ: B đường N, phường T, Quận G. Do có nhu cầu tìm thêm việc làm, nên vào lúc 06 giờ 54 phút ngày 26/01/2024, H bắt xe ôm công nghệ đến Công ty B “Saigon Real", địa chỉ: B đường N, Phường A, quận B, để xin việc. Khi đến nơi, H thấy Công ty mở cửa nên đi vào để hỏi xin việc làm, H đến quầy lễ tân tầng trệt không thấy có nhân viên đứng tại quầy, nên H đi lên lầu 1 kiếm người để hỏi. Khi lên lầu 1, H thấy phòng bên tay phải đang đóng cửa nên mở cửa đi vào thấy có 01 người phụ nữ đang dọn dẹp vệ sinh trong phòng bên trái có cửa kính, bên ngoài là các dãy bàn làm việc, nhưng không có người, H thấy có laptop và máy tính bảng đang để trên bàn đầu tiên, phía bên trái từ cửa đi vào nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, H để túi xách của H xuống ghế xoay (vị trí ngồi bên ngoài bàn thứ 1), H lần lượt trộm cắp: 01 laptop hiệu Dell và dây sạc của máy bỏ vào túi xách, rồi tiếp tục với tay qua bàn lấy 01 máy tính bảng hiệu Samsung có bao đựng máy tính bảng bỏ vào túi xách, rồi đi vòng qua bên đối diện bàn tháo dây sạc của máy tính bảng này và lấy tiếp 01 laptop Lenovo cùng dây sạc bỏ vào túi xách. Sau đó, H thấy có một bao vải màu hồng ở góc bàn thứ 2 (kế bên bàn 1), H mở ra xem thì thấy bên trong có một máy tính bảng hiệu Ipad

2

cùng một số giấy tờ tùy thân, nên H lấy bao vải màu hồng này bỏ vào túi xách của H. Sau khi trộm được những tài sản trên, H ra khỏi Công ty "Saigon Real" đi về hướng đường Đ rồi đặt xe ôm công nghệ đến quán cà phê khu vực Công ty N2 – B N, phường Đ, Quận A để kiểm tra tài sản trộm được. Sau đó, H về lại Công ty “Khải Hoàn” làm việc bình thường. Chiều tối cùng ngày, H về nhà, tại số: A đường L, Phường C, Quận A, H mở máy laptop hiệu Lenovo Thinkpad màu đen – 13 inches, thấy máy không cài mật khẩu, máy laptop D màu đen có mật khẩu, H tự cài lại máy và xóa mật khẩu cũ của máy, còn máy tính bảng hiệu S1 tab S7 FE và máy tính bảng Ipad Pro 11 inches có cài mật khẩu, ngoài ra bên trong bao vải màu hồng còn có căn cước công dân, giấy đăng ký xe mô tô, bằng lái xe và 03 thẻ tín dụng ngân hàng: V, S2, V1 đều mang tên Nguyễn Thị Hồng N1.

Đến ngày 28/01/2024, H nhắn tin qua Zalo tài khoản “Nguyễn H2” và hẹn gặp ông Nguyễn Hữu H2 tại quán cà phê “WHY NOT” địa chỉ: Khu dân cư K, phường T, Quận G, H bán laptop Lenovo Thinkpad cho ông Nguyễn Hữu H2 được 3.000.000 đồng, anh H2 chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng B1 của H. Khi bán, H nói với anh H2 laptop trên là của bạn H nhờ bán, ông H2 không biết laptop trên do H phạm tội mà có.

Đến chiều ngày 30/01/2024, H tìm kiếm trên mạng Internet để bán tiếp laptop hiệu Dell, H đến cửa hàng “BE SMART”, địa chỉ: 2 đường C, Phường D, quận T, bán laptop hiệu Dell màu đen kèm cục sạc cho Lê Phước C với giá 2.300.000 đồng, ông C chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng B1 của H. Khi bán, H nói với ông C laptop trên của H cần bán, ông C không biết laptop trên do H phạm tội mà có.

Số tiền 5.300.000 đồng bán 02 Laptop, H đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 31/01/2024, khi bị kiểm tra hành chính và mời làm việc, H đã giao nộp 02 máy tính bảng S và Ipad P1 cùng một số giấy tờ tùy thân, thẻ ngân hàng của chị Nguyễn Thị Hồng N1 cho Cơ quan Công an. Ngày 31/01/2024, chị Nguyễn Thị Hồng N1 đến Công an P2, quận B trình báo sự việc bị mất trộm nêu trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Nguyễn Ngọc H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 75/KLĐGTS-TCKH ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận:

  • 01 laptop hiệu Lennovo Thinkpad, Core i5, 13 inches của anh Nguyễn Hữu Đức P, có giá 8.000.000 đồng;
  • 01 laptop hiệu Dell, Core i5-8, 13 inches của ông Lê Quang T1, có giá 4.000.000 đồng;

3

  • 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab, S7 FE của ông Tăng Tự T, có giá 5.000.000 đồng;
  • 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inches, 128Gb của bà Nguyễn Thị Hồng N1, có giá 15.000.000 đồng;
  • 01 bao đựng máy tính bảng Samsung, bên ngoài bọc vỏ nhựa màu đen có bàn phím, có giá: 400.000 đồng;
  • 01 bao vải kích thước 30x15 màu hồng có khóa kéo: không đủ cở sở định giá; (BL: 62)

Trách nhiệm dân sự:

  • Bà Nguyễn Thị Hồng N1, ông Nguyễn Hữu Đức P, ông Tăng Tự T, ông Lê Quang T1 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì về dân sự. (BL: 83, 119, 108)
  • Ông Nguyễn Hữu H2 yêu cầu Nguyễn Ngọc H bồi thường 3.000.000 đồng; ông Lê Phước C yêu cầu Nguyễn Ngọc H bồi thường 2.300.000 đồng. (BL: 164).

Bản cáo trạng số 108/CT-VKSBTh ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay chưa thật thà, còn khai nại với lời khai tại Cơ quan điều tra nhưng căn cứ vào vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, dữ liệu camera đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Ngọc H đã có hành vi trộm cắp tài sản.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tại phiên tòa ngày hôm nay, do bị cáo khai lan man, không thành khẩn nên rút lại tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:

Vào lúc 06 giờ 54 phút ngày 26/01/2024, tại Công ty bất động sản "Saigon Real”, địa chỉ: B đường N, Phường A, quận B, Nguyễn Ngọc H đã có hành vi lén lút trộm cắp: 01 laptop hiệu Lennovo Thinkpad, Core i5, 13 inches của ông Nguyễn Hữu Đức P, trị giá 8.000.000 đồng; 01 laptop hiệu Dell, C1 i5-8, 13 inches của ông Lê Quang T1, trị giá 4.000.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Samsung Tab, S7 FE của ông Tăng Tự T, trị giá 5.000.000 đồng; 01 máy tính bảng hiệu Ipad Pro 11 inches, 128Gb của bà Nguyễn Thị Hồng N1, trị giá 15.000.000 đồng; 01 bao đựng máy tính bảng Samsung, bên ngoài bọc vỏ nhựa màu đen có bàn phím, trị giá: 400.000 đồng; 01 bao vải kích thước 30x15 màu hồng có khóa kéo: không đủ cở sở định giá thì bị bắt giữ. Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt là: 32.400.000 đồng.

Đối với ông Nguyễn Hữu H2 và ông Lê Phước C, khi mua 02 laptop của H, cả 2 không biết các laptop trên do H trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý ông Nguyễn Hữu H2 và ông Lê Phước C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Ngọc H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Ngọc H là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ hở của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt tài

5

sản, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa, bị cáo khại nại về thời gian thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã không thật thà khai báo, chưa ăn năn hối cải nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trả lại một phần tài sản cho những bị hại.

Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bà Nguyễn Thị Hồng N1, ông Nguyễn Hữu Đức P, ông Tăng Tự T, ông Lê Quang T1 đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì về dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
  • Ông Nguyễn Hữu H2 yêu cầu Nguyễn Ngọc H bồi thường 3.000.000 đồng; ông Lê Phước C yêu cầu Nguyễn Ngọc H bồi thường 2.300.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo H bồi thường cho ông H2 3.000.000 đồng, ông C 2.300.000 đồng.

Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã thu lợi bất chính được 5.300.000 đồng nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo H nộp lại tiền đã thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 áo sơ mi màu trắng có dán chữ “Vạn Đạt”, 01 quần tây màu xanh đen có ghi chữ “Routine”, một đôi giày màu đen ghi chữ “DECI”, 01 cặp màu đen có quai đeo chéo ghi dòng chữ “Thinhpad” là trang phục H mặc dùng để đựng tài sản trộm cắp được, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

6

  • 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy S10 màu đen là tài sản cá nhân của H sử dụng liên lạc với ông Nguyễn Hữu H2 để giao dịch bán laptop hiệu Lenovo thinkpad mà H trộm cắp được nên cần tịch thu sung quỹ.
  • 01 usb ghi hình ảnh H trộm cắp tài sản tại văn phòng Công ty S3 cần lưu vào hồ sơ vụ án.

Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

[7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2024.

2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:

  • Lưu vào hồ sơ vụ án 01 usb ghi hình ảnh H trộm cắp tài sản tại văn phòng Công ty S3.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi màu trắng có dán chữ “Vạn Đạt”, 01 quần tây màu xanh đen có ghi chữ “Routine”, một đôi giày màu đen ghi chữ “DECI”, 01 cặp màu đen có quai đeo chéo ghi dòng chữ “Thinhpad".
  • Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy S10 màu đen.

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải trả cho ông Nguyễn Hữu H2 số tiền 3.000.000 đồng;

Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H phải trả cho ông Lê Phước C số tiền 2.300.000 đồng.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.300.000 đồng

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)

3. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

7

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sở thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Q. Bình Thạnh;
  • - Công an Q. Bình Thạnh;
  • - CC THA DS Q. Bình Thạnh
  • - Sở Tư pháp Tp. HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lương Thanh Mười

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HSST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 99/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger