Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Huế.

Ông Vũ Khắc Quế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Công T, sinh năm: 1993 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số G N, thôn Á, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T1, sinh năm 1963 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965, cả hai hiện cư trú tại số G N, thôn Á, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Nguyễn Thị Hương V, sinh năm 1992, hiện cư trú tại số G N, thôn Á, xã L, thành phố B, con: Có 01 con tên Đoàn Minh K, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/09/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Bản án số 80/2011/HS-ST. Chấp hành án xong ngày 07/02/2018.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 07/04/2024 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông Đỗ Văn C, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Số A T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Văn T1, sinh năm: 1963; nơi cư trú: Số G N, thôn Á, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng: Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1999; nơi cư trú: Số G T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 03/04/2024, Đoàn Công T điều khiển xe mô tô Honda Dream không có biển số, mang theo 01 chiếc mỏ lết đi đến khu vực đường T, xã Đ, thành phố B để trộm cắp tài sản. Khi đến nhà của ông Đỗ Văn C tại địa chỉ số A T, xã Đ, thành phố B, T phát hiện nhà khóa cửa nhưng không có người, T dựng xe bên lề đường và đi bộ qua vườn cà phê gần đó rồi trèo qua hàng rào lưới B40 phía bên hông nhà để vào nhà. Sau đó T đi đến cửa hông bên phải, phía sau rồi dùng mỏ lết mang theo bẻ khóa cửa đi vào bên trong nhà lục tủ lấy được 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng, 01 (một) điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 (một) Ipad mini 4 màu vàng đồng. Sau khi lấy trộm được tài sản, T đến tiệm V2 ở địa chỉ 2 L, phường A, thành phố B bán 01 nhẫn vàng 9999 có trọng lượng 05 phân được số tiền 3.300.000đ, 03 chiếc nhẫn vàng còn lại T mang về cất giấu tại nhà T. Đối với 01 điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 Ipad mini 4 màu vàng đồng T cất giấu trong bụi cỏ ở bãi đất trống đối diện trước cửa nhà. Đến ngày 04/04/2024, T tiếp tục mang 01 nhẫn vàng đến tiệm V3 ở địa chỉ G T, phường L, thành phố B bán 01 nhẫn vàng 9999 trọng lượng 01 chỉ được số tiền 6.820.000đ, toàn bộ số tiền bán vàng của 02 lần, T đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Ngày 06/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của T tại địa chỉ số G N, thôn Á, xã L, thành phố B và tại bãi đất trống đối diện nhà của T đã phát hiện và thu hồi 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt trong của 01 nhẫn có in chữ “VAN KIM 10 99% VAN KIM”, 01 nhẫn còn lại có chữ “VAN KIM 10 9999 VAN KIM”, 01 chiếc điện thoại Samsung A01 đỏ, 01 Ipad 4 màu hồng. Ngoài ra còn phát hiện 01 chiếc mỏ lết bằng kim loại màu trắng bạc, 01 chiếc áo khoác dạng áo phao màu xanh đen có in chữ “ME PHILIPPLINEN” trên ngực áo, 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, 01 xe mô tô Honda Dream màu nho gắn biển số 36B1-100.75 cùng giấy đăng ký xe bản chính.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với chị Đỗ Thị Tuyết N và chị Phạm Thị H là nhân viên của tiệm V2Kim Tài N1 nơi T đã bán vàng ngày 03/04/2024 và 04/04/2024 đều xác định người đến bán vàng cho chị N và chị HĐoàn Công T.

Tại bản kết luận số 2415/KL-KTHS ngày 08/05/2024 của phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 (tại thành phố Hồ Chí Minh) kết luận: 02 nhẫn kim loại màu vàng, tổng khối lượng 7,5018 gam niêm phong gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V1 (Au) trung bình 97,96%.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 22/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

- Giá bán tại thời điểm 03/04/2024 của 01 nhẫn vàng 9999, loại nhẫn trơn, mặt bên trong nhẫn có chữ “Van Kim”, trọng lượng 05 phân có giá trị 3.483.000đ.

- Giá bán tại thời điểm 03/04/2024 của 01 nhẫn vàng 9999, loại nhẫn trơn, mặt bên trong nhẫn có chữ “Van Kim”, trọng lượng 01chỉ có giá trị 7.000.000đ.

- Giá bán tại thời điểm 03/04/2024 của 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng, có thành phần kim loại chủ yếu là V1 (Au) trung bình 97,96% tổng khối lượng 7,5018 gam, có giá trị 13.567.000đ.

2

Giá bán tại thời điểm 03/04/2024 của 02 nhẫn vàng 9999, không nhớ chủng loại vàng, trọng lượng mỗi chiếc nhẫn là 01 chỉ (tài sản không thu hồi được) có giá trị 13.900.000đ.

- 01 điện thoại Samsung A01 màu đỏ (tài sản thu hồi được) có giá trị 2.400.000đ.

- 01 Ipad 4 mini màu vàng đồng (tài sản thu hồi được) có giá trị 683.000đ.

Tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm ngày 03/04/2024 là 41.033.000đ.

Quá trình điều tra, bị hại ông Đỗ Văn Cao trình b bị chiếm đoạt số tài sản gồm 06 (sáu) chiếc nhẫn vàng trong đó 05 chiếc nhẫn có trọng lượng 01 chỉ và 01 chiếc nhẫn có trọng lượng 05 phân, 01 (một) điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 (một) Ipad mini 4 màu vàng đồng. Tuy nhiên căn cứ kết quả điều tra và vật chứng thu giữ được, chỉ có căn cứ chứng minh bị cáo Đoàn Công T đã lén lút chiếm đoạt của ông Đỗ Văn C số tài sản gồm 04 (nhẫn) chiếc nhẫn vàng, 01 (một) điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 (một) Ipad mini 4 màu vàng đồng. Trong đó 02 chiếc đã bán ngày 03/04/2024 tại tiệm V2 và ngày 04/04/2024 tại tiệm V3. Đối với 02 chiếc nhẫn vàng, mỗi nhẫn có trọng lượng 01 chỉ có giá trị theo Kết luận định giá tài sản số 50 ngày 22/05/2024 là 13.900.000đ, quá trình điều tra ông C không cung cấp được hóa đơn chứng từ mua bán, không đủ căn cứ chứng minh lời trình bày của ông C về việc bị mất trộm 02 chiếc nhẫn vàng này. Do đó chỉ đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Công T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Đỗ Văn C là 04 (nhẫn) chiếc nhẫn vàng, 01 (một) điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 (một) Ipad mini 4 màu vàng đồng với tổng giá trị theo kết luận định giá tài sản số 50 ngày 22/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B là 27.133.000đ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị hại ông Đỗ Văn C: 02 nhẫn bằng kim loại màu vàng, có thành phần kim loại chủ yếu là V1 (Au) trung bình 97,96%, tổng khối lượng 7,5018 gam, 01 điện thoại Samsung A01 màu đỏ và 01 Ipad 4 mini màu vàng đồng. Hiện đang tạm giữ: 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, số máy 00831174, số khung 1011174 gắn biển số 36B1-100.75, cốp xe không có tài sản gì, không kiểm tra tình trạng máy móc, hoạt động của xe; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng bạc, đã gỉ sét nhiều vị trí, trên mặt có ghi chữ và số như sau: “10-250 mm MADE IN CHINA”, “FOFGED STEEL"; 01 áo khoác dạng áo phao màu xanh đen, trên ngực áo có ghi chữ “ME Phil Ip Plinen"; 01 mũ bảo hiểm loại nón sơn màu đỏ, có lưỡi trai màu đen; 01 ổ khóa có 02 bát khóa gắn kèm; 01 hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 3,5cm; 1 phần hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 5cm, số tiền 10.120.000đ; ngoài ra còn có 01 đĩa DVD màu vàng ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn liên quan đến vụ mất trộm tại nhà ông Đỗ Văn C; 01 USB màu đỏ ghi nhận hình ảnh 01 nam thanh niên đội mũ bảo hiểm màu đỏ, áo khác màu xanh vào tiệm V2 bán vàng và 01 giấy nộp tiền mặt ngày 22/04/2024, số giao dịch 24904651, số tiền 10.120.000đ nộp vào tài khoản Công an thành phố B kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đỗ Văn C yêu cầu được nhận số tiền 10.120.000đ mà gia đình bị cáo Đoàn Công T đã nộp khắc phục hậu quả. Cáo trạng số: 93/CT-VKSBL ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Đoàn Công T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

3

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đoàn Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận, bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 10.120.000đ nhưng được trừ vào 10.120.000đ mà ông Đoàn Văn T1 đã nộp cho Cơ quan điều tra.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mỏ lết bằng kim loại màu trắng bạc (đã gỉ sét nhiều vị trí), 01 (một) áo khoác dạng áo phao màu xanh đen, trên ngực áo có ghi chữ “ME Phil Ip P”, 01 (một) mũ bảo hiểm loại nón sơn màu đỏ, có lưỡi trai màu đen, 01 (một) ổ khóa có 02 bát khóa gắn kèm, 01 (một) hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 3,5cm và 01 (một) phần hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 5cm.

Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, gắn biển số: 36B1-100.75, số máy 00831174, số khung 1011174 (trong cốp xe không có tài sản gì, không kiểm tra tình trạng máy móc, hoạt động của xe) để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại ông Đỗ Văn C yêu cầu được nhận số tiền 10.120.000đ mà gia đình bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đoàn Văn T1 đồng ý dùng số tiền 10.120.000₫ mà ông đã tạm nộp cho Cơ quan điều tra để bồi thường thay cho bị cáo. Ông không yêu cầu bị cáo phải thanh toán lại số tiền đã bồi thường thay này.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 03/04/2024 tại số nhà A T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Đoàn Công T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông Đỗ Văn C là 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng, 01 (một) điện thoại di động Samsung A01 màu đỏ và 01 (một) Ipad mini 4 màu vàng đồng có tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt là 27.133.000₫

4

(Hai mươi bảy triệu một trăm ba mươi ba nghìn đồng). Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Công T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Nhân nhân: Bị cáo có nhân thân xấu.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động bố đẻ là ông Đoàn Văn T1 bồi thường toàn bộ thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác bị cáo có nhân thân xấu (Ngày 15/09/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy) nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[6] Về vật chứng:

- Đối với 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng bạc, đã gỉ sét nhiều vị trí, trên mặt có ghi chữ và số như sau:“10-250 mm MADE IN CHINA”, “FOFGED STEEL"; 01 áo khoác dạng áo phao màu xanh đen, trên ngực áo có ghi chữ “ME Phil Ip Plinen"; 01 mũ bảo hiểm loại nón sơn màu đỏ, có lưỡi trai màu đen. Xét thấy, đây là công cụ và trang phục mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng giá trị còn lại không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 ổ khóa có 02 bát khóa gắn kèm; 01 hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 3,5cm; 01 phần hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 5cm. Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn C nhưng giá trị còn lại không lớn và ông C không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, số máy 00831174, số khung 1011174 gắn biển số 36B1-100.75. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 đĩa DVD màu vàng ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn liên quan đến vụ mất trộm tại nhà ông Đỗ Văn C; 01 USB màu đỏ ghi nhận hình ảnh 01

5

nam thanh niên đội mũ bảo hiểm màu đỏ, áo khác màu xanh vào tiệm V2 bán vàng. Đây là chứng cứ của vụ án, Cơ quan điều tra đã lưu vào hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn T1 đã nộp số tiền 10.120.000đ để khắc phục hậu quả cho bị cáo. Bị hại ông Đỗ Văn C yêu cầu được nhận số tiền 10.120.000₫ mà gia đình bị cáo Đoàn Công T đã nộp khắc phục hậu quả. Vì vậy, cần ghi nhận sự thỏa thuận này, bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 10.120.000₫ nhưng được trừ vào 10.120.000đ mà ông Đoàn Văn T1 đã nộp cho Cơ quan điều tra.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn T1 không yêu cầu bị cáo phải thanh toán lại số tiền đã bồi thường thay nên không xem xét đến.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Đối với chị Phạm Thị H và chị Đỗ Thị Tuyết N là nhân viên của tiệm V2Kim Tài N1 đã trực tiếp mua 02 nhẫn vàng do T trộm cắp tại nhà ông C ngày 03/04/2024. Tuy nhiên khi mua vàng, chị H và chị N không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có. Do đó Cơ quan điều tra Công an thành phố B không xem xét trách nhiệm hình sự của bà Nguyễn Thị Thu H1 là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Đối với người mà T đã mua ma túy để sử dụng bằng số tiền bán vàng trộm cắp được, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra Công an thành phố B tách riêng và tiếp tục xác minh và xử lý sau là có căn cứ và đúng pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Công T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đoàn Công T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/04/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) mỏ lết bằng kim loại màu trắng bạc (đã gỉ sét nhiều vị trí), trên mặt có ghi chữ và số như sau:“10-250 mm MADE IN CHINA”, “FOFGED STEEL".

+ 01 (một) áo khoác dạng áo phao màu xanh đen, trên ngực áo có ghi chữ “ME Phil Ip P”.

+ 01 (một) mũ bảo hiểm loại nón sơn màu đỏ, có lưỡi trai màu đen.

6

+ 01 (một) ổ khóa có 02 bát khóa gắn kèm.

+ 01 (một) hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 3,5cm.

+ 01 (một) phần hộp nhựa màu cam loại hộp đựng nhẫn, đường kính 5cm.

- Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream màu nho, gắn biển số: 36B1-100.75, số máy 00831174, số khung 1011174 (trong cốp xe không có tài sản gì, không kiểm tra tình trạng máy móc, hoạt động của xe) để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự.

Bị cáo Đoàn Công T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Đỗ Văn C số tiền 10.120.000đ (Mười triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền 10.120.000₫ mà ông Đoàn Văn T1 đã nộp cho Cơ quan điều tra (bị cáo đã bồi thường đủ).

(Theo giấy ủy nhiệm chi số 83 ngày 20/6/2024 đơn vị trả tiền là Công an thành phố B).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Đoàn Công T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND TP. Bảo Lộc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an TP. Bảo Lộc;
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 99/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Công T phạm tội " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger