TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/DS-PT
Ngày 22 tháng 4 năm 2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ, ông Trương Văn Hai
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024; tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Châu Phú bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 77/2024/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1965; cư trú tại: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trương Phú P, sinh năm 1981; cư trú tại: Số A, tổ A, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang (Theo văn bản ủy quyền ngày 07/8/2023). (Có mặt)
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1950; (chết ngày 11/10/2023, sau khi xét xử sơ thẩm); kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Á gồm:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982; cư trú tại: Tổ A, ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1990; cư trú tại: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/6/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trương Phú P trình bày:
Ngày 03/9/2022, ông Á có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ú diện tích 11.000m2 đất trồng lúa thuộc tờ bản đồ số 05, thửa đất số 298 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02636 QSDĐ/mF do UBND huyện C cấp ngày 20/4/1994. Giá chuyển nhượng là 721.000.000 đồng, ông Ú đã đặt cọc 135.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc ông Ú và ông Á có đến Văn phòng công chứng để làm thủ tục chuyển nhượng đất thì con ông Á đứng ra ngăn cản không chịu ký tên. Ông Ú đã cho ông Á 06 tháng để sắp xếp các con ông ký tên chuyển nhượng nhưng đến nay vẫn không thực hiện được.
Nay ông Ú khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Á phải trả số tiền 270.000.000 đồng, trong đó tiền đặt cọc là 135.000.000 đồng, tiền phạt cọc là 135.000.000 đồng. Ông Ú không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng do ông Ú đã cho ông Á một thời gian dài để sắp xếp chuyện các con ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng ông Á không làm được
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày: Thống nhất ngày 03/9/2022 ông Á có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Võ Văn Ú để chuyển nhượng diện tích 11.000m2 đất tọa lạc tại xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang. Ông Á có nhận đặt cọc 03 lần; lần đầu là ngày 03/9/2022 nhận 120.000.000 đồng; lần hai là ngày 14/10/2022 nhận 10.000.000 đồng; lần ba là ngày 08/12/2022 nhận 5.000.000 đồng, tổng cộng 03 lần nhận là 135.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc ông Á có đến chính quyền địa phương thì được biết cần phải có chữ ký của các con nên ông Á có liên hệ với các con về để sang tên cho ông Ú nhưng các con ông Á không về. Khoảng 01 tháng nay các con ông Á về đồng ý ký tên nhưng ông Ú không đồng ý. Nếu ông Ú đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì trong thời hạn nửa tháng kể từ ngày hôm nay (ngày 11/8/2023) ông Á sẽ liên hệ các con về làm thủ tục sang tên cho ông Ú. Nếu ông Ú không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng thì ông Á đồng ý trả lại tiền đặt cọc 135.000.000 đồng cho ông Ú trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày hôm nay (ngày 11/8/2023); Còn tiền phạt cọc 135.000.000 đồng thì ông Á không đồng ý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 277/2023/DS-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Phú đã xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 87, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn Ú về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Á trả lại tiền đặt cọc và bồi thường thiệt hại.
Buộc ông Nguyễn Văn Á có trách nhiệm trả cho ông Võ Văn Ú số tiền 270.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi triệu đồng); trong đó: tiền đặt cọc 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng), bồi thường thiệt hại là 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ông Võ Văn Ú phải có trách nhiệm trả lại ông Nguyễn Văn Á 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy 02636 QSDĐ/mF, diện tích 11.000m2, tờ bản đồ số 05, thửa đất số 298 do UBND huyện C cấp ngày 20/4/1994 cho ông Nguyễn Văn Á.
- Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Văn Á phải chịu 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại ông Võ Văn Ú tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.375.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0005783 ngày 18/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;
Ngày 15/10/2023, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn là ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, qua trình bày của các đương sự tại phiên tòa; Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn nộp đơn kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Các đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung. Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn Á chết ngày 11/10/2023; căn cứ Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Á gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S vào tham gia tố tụng là phù hợp pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á là ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn S và đại diện ủy quyền của ông Võ Văn Ú tự nguyện thỏa thuận được với nhau và sự thỏa thuận này không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận về các nội dung sau:
Trong thời gian 30 ngày kể từ ngày 22/4/2024, hai bên đương sự tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa ông Võ Văn Ú và kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S cụ thể như sau:
- Kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á gồm: ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 11.000m2 đất trồng lúa thuộc tờ bản đồ số 05, thửa đất số 298 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02636 QSDĐ/mF do UBND huyện C cấp ngày 20/4/1994 cho ông Nguyễn Văn Á; giá chuyển nhượng là: 721.000.000₫ (Bảy trăm hai mươi mốt triệu đồng)
- Ông Võ Văn Ú đưa trước 135.000.000đ (số tiền này ông Nguyễn Văn Á trước đây đã nhận đủ).
- Sau khi hai bên ông Võ Văn Ú và Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng (nêu trên) và được công chứng, chức thực hợp đồng chuyển nhượng thì Võ Văn Ú sẽ đưa tiếp số tiền: 450.000.000đ; (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S.
- Số tiền còn lại 136.000.000đ (một trăm ba mươi sáu triệu đồng), sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên ông Võ Văn Ú, thì ông Ú tiếp tục đưa thêm 136.000.000đ cho Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S.
- Các lệ phí sang tên cấp đổi giấy mới bên mua ông Võ Văn Ú chịu (chi phí đê bao nếu có phát sinh bên ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S phải chịu).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Mỗi bên đương sự chịu ½
Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; điều 296, 300 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của kế thừa quyền, nghĩa vụ của bị đơn ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn S.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 227/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 22/4/2024, hai bên đương sự tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng ngày 03/9/2022, giữa ông Võ Văn Ú và kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S cụ thể:
- Kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S đồng ý tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 11.000m2 đất trồng lúa thuộc tờ bản đồ số 05, thửa đất số 298 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02636 QSDĐ/mF do UBND huyện C cấp ngày 20/4/1994 cho ông Võ Văn Ú; giá chuyển nhượng là: 721.000.000₫ (Bảy trăm hai mươi mốt triệu đồng).
- Ông Võ Văn Ú đưa trước 135.000.000đ (số tiền này ông Nguyễn Văn Á trước đây đã nhận đủ).
- Sau khi hai bên ông Võ Văn Ú và Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (nêu trên) được Công chứng chức thực hợp đồng chuyển nhượng thì Võ Văn Ú sẽ đưa tiếp số tiền: 450.000.000đ; (Bốn trăm năm chục triệu đồng)
- Số tiền còn lại 136.000.000đ (một trăm ba mươi sáu triệu đồng), sau khi Võ Văn Ú được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, thì ông Ú có trách nhiệm trả số tiền còn lại 136.000.000đ cho ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S.
- Các lệ phí sang tên cấp đổi giấy mới bên mua ông Võ Văn Ú chịu (chi phí đê bao nếu có phát sinh bên ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S chịu).
- Về án phí dân sự: Kế thừa quyền nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Á là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S phải chịu 150.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Võ Văn Ú phải chịu 150.000đ, trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.375.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005783 ngày 18/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; ông Ú được nhận lại 3.225.000đ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S không phải chịu, hoàn trả lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005088 ngày 22/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 99/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 99/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông U kiện yêu cầu ông A trả tiền cọc và bồi thường cọc
