Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/DS-ST

Ngày: 29 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

và yêu cầu tuyên bố văn công chứng

vô hiệu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đổi

Ông La Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 982/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị T, sinh năm 1990.

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1993.

Cùng địa chỉ: Số A, Khu phố B, Thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16/11/2023.

Bị đơn: Ông Đào Tuấn A, sinh năm 1982.

Nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1981.

Địa chỉ tại: ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

1

- Văn phòng Công chứng Nguyễn Duy L.

Địa chỉ trụ sở: Ô 4, Lô A, Khu dân cư M, khu phố B, Đại lộ B, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy L – Trưởng Văn phòng.

(Bà T1 có mặt; ông A vắng mặt không lý do; Ông H và đại diện Văn phòng Công chứng Nguyễn Duy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày như sau:

Vào ngày 04/8/2022, sau khi đến xem tình trạng nhà, đất và giấy tờ pháp lý về đất bà T đã đồng ý mua nên đã tiến hành ký Hợp đồng đặt cọc với ông Đào Tuấn A để đảm bảo nhận chuyển nhượng đối với thửa đất số 584, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CI 268838, số vào số cấp GCN CS 06906, do Sở tài nguyên môi trường tỉnh L cấp ngày 16/8/2017, đăng ký biến động chuyển quyển cho ông Đào Tuấn A ngày 27/7/2022. Giá hai bên thương lượng là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng). Bà T đặt cọc trước số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) cho ông Đào Tuấn A ngay khi hai bên ký Hợp đồng đặt cọc.

Đến ngày 06/12/2022, nhưng do lo sợ ông A không thực hiện theo thỏa thuận nên bà T có ý ký hợp đồng chuyển quyền nhưng ông A nói chỉ cần ký hợp đồng ủy quyền trước. Bà T có nhờ ông H đứng tên và cùng ông Đào Tuấn A đã ký Hợp đồng ủy quyền số 12440, tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương đối với thửa đất 584 nêu trên mục đích đểm đảm bảo cho hợp đồng đặt cọc được thực hiện. Khoảng tháng 9/2023, bà T liên lạc với ông Đào Tuấn A không được nên bà T đã đến nhà ông Đào Tuấn A nhiều lần nhưng đều không gặp được nên bà T đã lên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề thực hiện thủ tục sang tên, chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa 584 nhưng khi thực hiện bà T mới biết quyền sử dụng đất của ông A đã bị người thân trong gia đình kiện tranh chấp lên Tòa án từ năm 2020.

Vì vậy, bà T làm đơn này khởi kiện ông Đào Tuấn A yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên Vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số 12440, quyền số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 được ký kết giữa ông Đào Tuấn A và ông Huỳnh Minh H đối với thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và Hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022 được ký kết giữa ông Đào Tuấn A và bà Trần Thị T đối với việc đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Buộc ông Đào Tuấn A có trách nhiệm cho bà T số tiền cọc 500.000.000đồng và ông Đào Tuấn A phải chịu phạt cọc là số tiền 500.000.000đồng. Tổng cộng 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng).

2

Đối với bị đơn ông Đào Tuấn A: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn ông Đào Tuấn A vẫn vắng mặt (mặc dù đã nhận được trực tiếp văn bản tố tụng của Tòa án), cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H trình bày:

T là người ký hợp đồng đặt cọc với ông Tuấn A để nhận chuyển nhượng phần đất thuộc thửa 584, tờ bản đồ số 49 theo Giấy đặt cọc ngày 04/8/2022. Bà T đã đưa trước cho ông Tuấn A số tiền 500.000.000đồng. đến tháng 12.2022, ông A lấy lý do không muốn bán thửa đất nên xin thời gian để chuộc lại, để đảm bảo quyền lợi của bà T, ông A có ký hợp đồng đồng ủy quyền thửa đất trên cho phía bà T, ông là người nhận ủy quyền thửa đất trên thay cho bà T. Hợp đồng ủy quyền giữa ông và ông A được lập ngày 06/12/2022, tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền bà T có liên hệ ông A để yêu cầu ông A trả lại tiền nhưng không liên hệ được, khi bà T và ông đi kiểm tra thửa đất để thực hiện thủ tục sang tên thì phát hiện thửa đất 584 là đất tranh chấp, không thể chuyên nhượng được. Hành vi của ông A là có tình đưa ra thông tin gian dối để bà T tin tưởng ký đặt cọc, lấy tiền của bà T. Ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà T, với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tôi không có yêu câu hay tranh chấp gì, ngoài ra ông đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L trình bày:

Vào ngày 06/12/2022, Văn phòng C nhận được yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền của ông Đào Tuấn A. Theo đó, ông Đào Tuấn A (bên ủy quyền) ủy quyền cho ông Huỳnh Minh H (bên nhận ủy quyền) đối với thửa đất số 584, tờ bản đồ số 49, địa chỉ thửa đất: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số CI626838 (số vào số cấp GCN: CS06906) do Sở T, tỉnh Long An cấp ngày 16/08/2017, cập nhật biến động ngày 27/07/2022. Thời hạn ủy quyền là: 10 (mười) năm kể từ thời điểm Hợp đồng này được Công chứng viên Văn phòng C, tỉnh Bình Dương chứng nhận.

Sau khi đối chiếu, kiểm tra những giấy tờ do đương sự cung cấp xét thấy đầy đủ và hợp lệ theo quy định của pháp luật, Công chứng viên Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L đã tiến hành tiếp nhận hồ sơ và đưa cho chuyên viên soạn thảo hợp đồng và hướng dẫn những người tham gia giao dịch ký văn bản theo đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm giao kết, những người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và đồng ý với những nội dung ghi trong hợp đồng, nội dung ủy quyền không vi phạm pháp luật. Vì vậy, công chứng viên Nguyễn Duy L đã chứng nhận Hợp đồng ủy quyền số 12440, quyền số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022.

3

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T về yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 06/12/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L giữa ông Đào Tuấn A với ông Huỳnh Minh H, đối với thửa 584, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L không có ý kiến gì vì đây là quyền của công dân. Ngoài ra đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L có đơn đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án trên.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu vô hiệu hợp đồng đặt cọc và hợp đồng ủy quyền. Ngoài ra bà trình bày hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 584, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long do bà T đang giữ và nguyên đơn đồng ý trả lại cho ông Tuấn A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Nguồn gốc quyền sử dụng đất thửa đất số 584, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Trương Thị Q chuyển nhượng qua cho ông Đào Tuấn A, ông Đào Tuấn A có ký xác lập với bà T để đặt cọc chuyển nhượng cho bà T với giá chuyển nhượng 1.000.000.000đồng đưa trước số tiền 500.000.000đồng. Thửa đất nêu trên năm 06/11/2020 đang là đối tượng của tranh chấp thừa kế được Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thông báo thụ lý số 642 ngày 6 tháng 11 năm 2020, tuy nhiên ngày 04/8/2022, ông Đào Tuấn A vẫn tiến hành xác lập Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà T. Ngay từ đầu ông T2 anh biết rõ đất của mình đã bị tranh chấp, không đảm bảo các điều kiện thực hiện các quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 188 Luật Đất đai 2013 nhưng ông A vẫn đưa ra thông tin gian dối, để bà T ký hợp đồng đặt cọc, đồng thời giao số tiền đặt cọc. Căn cứ vào Điều 127, khoản 1, Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên vô hiệu Hợp đồng đặt cọc đã ký kết vào ngày 04/8/2022, giữa bà T với ông Đào Tuấn A. Căn cứ Khoản 2 Điều 408 đề nghị tuyên buộc ông Đào Tuấn A phải trả cho bà T 500.000.000 đồng tiền đặt cọc và 500.000.000 đồng tiền phạt cọc. Xét hợp đồng đồng ủy quyền ngày 06/12/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L phần đất của ông Tuấn A đang bị tranh chấp, đã được tòa án thụ lý giải quyết vì thế không được tiến hành giao dịch vì vậy đã vi phạm Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền này. Ghi nhận

4

việc trả giấy chứng nhận của đại diện ủy quyền nguyên đơn cho bị đơn ông Đào Tuấn A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trần Thị T khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu vô hiệu văn bản công chứng với bị đơn ông Đào Tuấn A nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”, bị đơn và phần đất tranh chấp tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý theo thủ tục sơ thẩm là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn ông Đào Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H, đại diện Văn Phòng công chứng Nguyễn Duy L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng bị đơn ông Đào Tuấn A vắng mặt; ngày 24/01/2024 người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị T1 có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Nguyên đơn bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu vô hiệu Hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022 giữa bà T và ông Đào T3 anh và trả số tiền cọc 500.000.000đồng, yêu cầu phạt cọc số tiền 500.000.000đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ “Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 04/8/2022” thể hiện ông Đào Tuấn A (bên bán) chuyển nhượng cho bà Trần Thị T (bên mua) thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49 diện tích 881m² với giá chuyển nhượng là 1.000.000.000đồng, lần 1 ngày 04/8/2022 thanh toán số tiền 500.000.000đồng. Số tiền còn lại thanh toán trong vòng 02 tháng kể từ ngày 04/8/2022 đến ngày 04/10/2022. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T mới biết quyền sử dụng đất của ông A đã bị người thân trong gia đình ông Đào Tuấn A khởi kiện tranh chấp lên Tòa án từ năm 2020 theo Thông báo thụ lý vụ án số 642/TB-TA ngày 06/11/2020 và Công văn ngăn chặn chuyển nhượng số 1218/CV-TA ngày 04/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

5

Từ đó, có cơ sở xác định bị đơn ông Đào Tuấn A biết việc đất chuyển nhượng thuộc thửa 584 tờ bản đồ số 49 là đất đang tranh chấp từ năm 2020, bị ngăn chặn chuyển nhượng không đảm bảo các điều kiện thực hiện các quyền chuyển nhượng được quy định tại Điều 188 Luật Đất đai 2013nhưng ông A vẫn đưa ra thông tin gian dối, để bà T ký hợp đồng đặt cọc, đồng thời giao số tiền đặt cọc 500.000.000đồng là không trung thực trong việc chuyển nhượng vi phạm thỏa thuận của các bên tại hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022 nên lỗi dẫn đến hợp đồng không thể thực hiện được, không tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49, đất tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An lỗi hoàn toàn thuộc về ông Đào Tuấn A. Vì vậy, nguyên đơn bà Trần Thị T yêu cầu vô hiệu Hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022 và buộc ông Đào Tuấn A phải trả số tiền cọc là 500.000.000đồng phù hợp với Điều 88 Luật đất đai 2013 và Điều 123, Điều 127, Điều 407, khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự 2015.

[2.2] Về yêu cầu phạt cọc: Theo nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022, tại mục Điều khoản chung thể hiện trong trường hợp bị đơn không cung cấp giấy tờ liên quan về thửa đất hoặc đổi ý không bán thì phải bồi thường gấp hai lần số tiền cọc đã nhận và như nhận định tại mục [2.1] do bên bị đơn vi phạm nghĩa vụ không thực hiện được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên phải chịu phạt cọc. Nguyên đơn bà Trần Thị T đã đặt cọc số tiền 500.000.000đồng nên yêu cầu phạt cọc gấp hai lần số tiền đặt cọc là 500.000.000đồng cho bị đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 328, khoản 2 Điều 408 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 06/12/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L giữa ông Đào Tuấn A với ông Huỳnh Minh H, đối với thửa 584, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Như đã phân tích tại mục [2.1] nguyên đơn và người liên quan ông H đều trình bày xác định việc các bên ký hợp đồng ủy quyền giữa ông Đào Tuấn A với ông Huỳnh Minh H, đối với thửa 584 là do ông H đứng tên hộ trên hợp đồng ủy quyền dùm cho bà T để đảm bảo quyền lợi cho bà T khi ông A đang có ý định không thực hiện chuyển nhượng theo thỏa thuận vì thực tế diện tích đất chuyển nhượng đang tranh chấp, bị ngăn chặn nên không thực hiện được việc chuyển nhượng. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng việc ký hợp đồng ủy quyền giữa ông H và ông A là giả tạo nhằm che đậy hợp đồng chuyển nhượng thực tế giữa bà T và ông A cũng như hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối (ông A biết đất tranh chấp không thực hiện được nhưng vẫn ký hợp đồng đặt cọc và ký hợp đồng ủy quyền) nên căn cứ Điều 124, Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 06/12/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L.

6

Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị T không tranh chấp, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đào Tuấn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Đào Tuấn A đã nhận được văn bản tống đạt, Tòa án đã thông báo cho ông Đào Tuấn A biết về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông Đào Tuấn A không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông Đào Tuấn A đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên ông Đào Tuấn A phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Từ những nhận định trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T buộc ông Đào Tuấn A phải có trách nhiệm trả lại cho bà Trần Thị T số tiền cọc đã nhận là 500.000.000đồng và tiền phạt cọc là 500.000.000đồng, tổng cộng 1.000.000.000đồng. Tuyên Vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 06/12/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L giữa ông Đào Tuấn A với ông Huỳnh Minh H, đối với thửa 584, tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và vô hiệu Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 04/8/2022” là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Tại phiên tòa bà Trần Thị T1 là đại diện ủy quyền của nguyên đơn có ý kiến trình bày hiện bên nguyên đơn đăng giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tự nguyện trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất số CI 626838 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 06906 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 16/8/2017 đối với thửa đất số 584 số tờ bản đồ 49 cho Đào Tuấn A. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự và để giải quyết triệt để vụ án nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với diễn biến cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị T không phải chịu án phí. Bị đơn ông Đào Tuấn A phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền và yêu cầu vô hiệu hợp đồng đặt cọc và án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ hoàn trả số tiền 1.000.000.000đồng theo

7

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 328, Điều 117, Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 407 và Điều 408 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị T về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” và đối với bị đơn ông Đào Tuấn A.

1. Tuyên Vô hiệu Hợp đồng ủy quyền số công chứng 12440, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/12/2022 tại Văn phòng C được ký kết giữa ông Đào Tuấn A và ông Huỳnh Minh H đối với thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. T4 vô hiệu Hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất ngày 04/8/2022 được ký kết giữa ông Đào Tuấn A và bà Trần Thị T đối với việc đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 584 tờ bản đồ số 49, đất tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

3. Buộc ông Đào Tuấn A phải có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T tổng cộng số tiền là 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) theo hợp đồng đặt cọc ngày 04/8/2022, trong đó trả số tiền nhận cọc là 500.000.000đồng và tiền phạt cọc là 500.000.000đồng.

Thời hạn và phương thức thanh toán:

Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

8

4. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị T1 là đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị T về việc bà Trần Thị T tự nguyện trả bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất số CI 626838 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 06906 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 16/8/2017 đối với thửa đất số 584 số tờ bản đồ 49 cho ông Đào Tuấn A.

Trường hợp bà Trần Thị T không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Đào Tuấn A được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp) để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Tuấn A phù hợp với quy định của luật Đất đai và kết quả giải quyết của Tòa án.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đào Tuấn A phải chịu tổng cộng số tiền là 21.600.000đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Ông Đào Tuấn A chưa nộp.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An hoàn lại cho nguyên đơn bà Trần Thị T tổng cộng số tiền là 25.600.000đồng (Hai mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005407, 0005406 ngày 22/11/2023 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006664 ngày 20/3/2024.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Đào Tuấn A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Minh H và đại diện Văn phòng công chứng Nguyễn Duy L vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - CC THA dân sự huyện Đức Hòa
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố văn công chứng vô hiệu

  • Số bản án: 99/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu tuyên bố văn công chứng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị T "tranh chấp hợp đồng đặt cọc" Đào Tuấn A
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger