TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A Tỉnh Hậu Giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 99/2024/DS-ST Ngày: 19-9-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Văn Chuộng
- Bà Trần Thị Kim Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Bé B1 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phan Thanh T, ông Nguyễn Phước T1, cùng địa chỉ: Ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B trình bày như sau: Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha ông là ông Nguyễn Văn H. Vì theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H thì đất ông H có chiều ngang 21m, sau đó tách ra cho bốn anh, em hết 19,5m, chừa lại 1,5m làm đường đi. Khi ông Bé B1 xây dựng nhà lấn qua đất của ông khoảng 1m. Ông không đồng ý công nhận cho ông N quyền sử dụng phần đất tranh chấp. Phần đất của ông N theo giấy chứng nhận mà ông N được cấp chỉ có 11,5m chiều ngang, nên ông chỉ công nhận cho ông N chiều ngang 11,5m, phần còn dư ông N phải trả lại cho ông.
Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn B xác định yêu cầu nguyên đơn tháo dở nhà trả lại phần đất diện tích đất là 12,3m² theo đo đạc thực tế. Vì khi cha của ông chia đất cho các con vẫn còn chừa lại ngang 1,5m làm đường đi, phần này hiện còn nằm trong giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn H.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Nguyễn Văn Bé B1 trình bày như sau: Cha của ông là ông Nguyễn Văn N có phần đất diện tích khoảng 323m², thửa 1347, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Phần đất này, ông N đã tặng cho ông nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Năm 2016, ông có xây nhà trên phần đất này, nhưng gia đình ông và ông B khi thỏa thuận ranh lại xảy ra tranh chấp. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn B công nhận cho ông Nguyễn Văn N quyền sử dụng phần đất chiều ngang dài 1m, chiều dài 40m vì hiện ông đã xây nhà trên phần đất đó rồi. Tuy nhiên, theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp chỉ có 12,3m², vì vậy, nguyên đơn chỉ yêu cầu ông B công nhận phần này là của ông Nguyễn Văn N.
Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn N là ông Nguyễn Văn B2 Ba xin rút lại yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N vì theo kết quả đo đạc thực tế thì phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn N và hiện ông N để ông đang quản lý, sử dụng nên thấy không cần yêu cầu công nhận quyền sử dụng cho ông N nữa. Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn B, ông không đồng ý vì đất ông sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha ông là Nguyễn Văn N, đất ông B không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông B được cấp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phan Thanh T và Nguyễn Phước T1 trình bày thống nhất như sau: Bà T là dâu, anh T1 là cháu nội của ông Nguyễn Văn N và là vợ, con của ông Nguyễn Văn B2 Ba hiện đang sống trong căn nhà nằm trên phần đất tranh chấp giữa ông N và ông B. Bà T và anh T1 thống nhất với lời trình bày của ông Bé B1 là người đại diện theo uỷ quyền của ông N trong vụ án này, không có ý kiến gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 26, Điều 37 của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn B đối với ông Nguyễn Văn N về việc đòi lại quyền sử dụng đất.
- Tiếp tục ổn định cho ông Nguyễn Văn N sử dụng phần đất tranh chấp diện tích 12,3m² loại đất ONT thuộc thửa 1347.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với ông Nguyễn Văn B.
- Về án phí và chi phí đo đạc, định giá: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí đo đạc, thẩm định giá theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận của hai bên đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N cho rằng ông Nguyễn Văn B cản trở việc ông sử dụng đất vì ông B cho rằng đất mà ông đang sử dụng là của ông B từ đó phát sinh tranh chấp. Xét đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Tại phiên toà, ông Bé B1 xác định rút lại yêu cầu khởi kiện của ông N đối với ông B. Ông B giữ nguyên yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tư cách đương sự trong vụ án này có sự thay đổi. Nguyên đơn Nguyễn Văn N trở thành bị đơn, bị đơn Nguyễn Văn B trở thành nguyên đơn.
- [3] Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thanh T và Nguyễn Phước T1 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt những người này.
- [4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B đối với ông Nguyễn Văn N: Ông B yêu cầu ông N trả lại cho ông phần đất diện tích 12,3m²:
Ông B cho rằng phần đất này có nguồn gốc là của cha ông là Nguyễn Văn H, khi cha ông chia đất cho các con, còn chừa lại 1,5m ngang không sang tên cho ai, còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cha ông là ông H và yêu cầu căn cứ vào giấy chứng nhận của ông H để giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, việc này không có chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh, vì ông B không cung cấp được bản sao y hay bản gốc có giá trị pháp lý phần đất còn lại trong giấy chứng nhận của ông H1 sau khi chia đất cho các con.
Trong khi đó, phần đất tranh chấp sau đo đạc, thẩm định xác định nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn N. Đồng thời, phần đất mà ông Nguyễn Văn B đang quản lý, sử dụng không thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông B được cấp. Trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn B có ông Nguyễn Văn Bé B1 là con ông Nguyễn Văn N ký giáp ranh, điều này xác định rằng đất của ông B theo giấy chứng nhận được cấp năm 2015 là giáp ranh với phần đất của ông N mà ông Bé B1 đang sử dụng, không còn phần nào nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H.
Vì vậy, việc ông B có yêu cầu đòi ông N trả lại cho ông phần đất ông N đã lấn chiếm là không có cơ sở để được chấp nhận.
- [5] Tại phiên toà, nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện về việc công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn N. Việc rút yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.
- [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án do yêu cầu của ông Nguyễn Văn B không được chấp nhận nên bị đơn Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng.
- [7] Chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản, trích lục hồ sơ: 6.000.000đồng. Căn cứ Điều 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì ông B phải chịu số tiền này do yêu cầu của ông B không được chấp nhận.
- [8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, 157, 165, Điều 227, 228 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 26, Điều 37 của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N về việc đòi lại quyền sử dụng đất.
- Ổn định cho ông Nguyễn Văn N tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 12,3m² loại đất ODT thuốc thửa 1347 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000002 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp cho ông Nguyễn Văn L vào ngày 20/01/1992 đến ngày 02/01/2009 cập nhật sang tên ông Nguyễn Văn N.
(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 42-2024 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang).
- Về án phí và chi phí đo đạc, thẩm định giá:
Về án phí: Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 1.250.000đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004656 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.Ông Nguyễn Văn B được nhận số tiền chênh lệch còn lại là 950.000đồng (chín trăm năm mươi ngàn đồng).
Về chi phí đo đạc, thẩm định giá: Ông Nguyễn Văn B phải nộp 6.000.000đồng (sáu triệu đồng) để trả lại cho ông Nguyễn Văn N.
- Nguyên đơn Nguyễn Văn B, bị đơn Nguyễn Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên Phan Thanh T, Nguyễn Phước T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Chúc Linh |
Bản án số 99/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 99/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
