|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2023/HS-PT Ngày 28/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà, Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2023/TLPT-HS ngày 25/9/2023 đối với các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D, Trần Việt Đ do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ - Bà Nguyễn Thị L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
- Ngô Tuấn A, sinh ngày 24/9/2005. Nơi cư trú: thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Học sinh. Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Ngô Hồng Q và bà Nguyễn Thị Quỳnh . Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/5/2023 cho đến nay. (có mặt).
- Phạm Văn D, sinh ngày 08/4/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn N và bà Trần Thị C. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/5/2023 cho đến nay. (có mặt).
- Trần Việt Đ, sinh ngày 07/9/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn L1 bà Nguyễn Thị L. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/5/2023 cho đến nay. (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Tuấn A:
Ông Ngô Hồng Q, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1984 (bà Q1 có mặt).
Đều trú tại: Thôn H, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn D:
Ông Phạm Văn N, sinh năm 1968 và bà Trần Thị C, sinh năm 1972; Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình(bà C có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ: Bà Nguyễn Thị L
Đều trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình( bà L có mặt). Bà L2 ủy quyền cho ông Bùi Xuân S – Luật sư Đoàn luật sư tỉnh T tham gia phiên tòa (ông S có mặt)
Người bào chữa cho các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D, Trần Việt Đ:Ông Đào Quang N1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thuộc Sở tư pháp Thái Bình (có mặt).
Đại diện cơ quan, tổ chức nơi Ngô Tuấn A cư trú:
Bà Vũ Thị T - Bí thư Đoàn TNCSHCM xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình(có đơn xin vắng mặt).
Đại diện cơ quan, tổ chức nơi Trần Việt Đ và Phạm Văn D cư trú:
Ông Bùi Thanh H - Bí thư Đoàn TNCSHCM xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin vắng mặt).
Đại diện nhà trường nơi Ngô Tuấn A học tập:
Ông Đỗ Thanh T1 – Giáo viên, bí thư Đoàn trường Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện T, tỉnh Thái Bình. (có đơn xin vắng mặt).
Trong vụ án này còn có các bị cáo Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Bùi Ngọc Đ1, Đinh Bá L3, Trần Văn A1, Cao Trung P, Nguyễn Văn T3, Phạm Đình T4, Bùi Anh T5 không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước và là bạn bè của nhau nên Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Trần Văn A1, Cao Trung P, Đinh Bá L3, Phạm Văn A2, Bùi Ngọ Đ2, Ngô Tuấn A lập và cùng tham gia nhóm Messenger facebook “Anh em Thái T6” để liên lạc với nhau. Thông qua nhóm này, trong các ngày 10/12/2022 và ngày 11/12/2022, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/12/2022, Nguyễn Tiến T2 nhắn tin qua nhóm Messenger facebook “Anh em Thái T6” ra đi xuống trung tâm hội nghị, thuộc tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T (mọi người đều hiểu là đi xe môtô, mang hung khí đi đến Trung tâm hội nghị huyện để điều khiển quanh khu vực này và nếu gặp nhóm nào mẫu thuẫn thì đánh) thì các thành viên trong nhóm đồng ý. Sau đó, nhóm gồm: Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Trần Văn A1, Cao Trung P, Đinh Bá L3, Phạm Văn A2, Bùi Ngọc Đ1, Ngô Tuấn A tập trung tại nhà Trần Văn T7 ở thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tại nhà Trần Văn T7, Nguyễn Tiến T2 lấy 04 kiếm, K lấy vỏ chai bia ở góc cho vào ba lô màu đen để đeo trên người (kiếm và vỏ chai bia có ở nhà Trần Văn T7 từ trước). Khi đi, K điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave 100 màu đen, không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Tiến T2, A2 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave anpha màu đen, không rõ biển kiểm soát chở Trần Văn T7, Trần Văn A1 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu sirius màu đỏ, biển kiểm soát 17M2-4791 chở P và L3; Ngô Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen, biển kiểm soát 16F2-5568 chở Đ1, mỗi xe kẹp 01 kiếm cài ở pô xe máy. Khi nhóm đi đến khu vực gốc đa thôn K, xã D thì gặp Trần Văn T8, sinh năm 2001, trú tại thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. T8 lên xe do A2 điều khiển chở Trần Văn T7 và T8. Cả nhóm tiếp tục đi đến khu vực cầu T, xã T thì gặp Bùi Anh T9 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave, màu tím, biển kiểm soát 17AA-633.34 nhập vào nhóm đi cùng, lúc này K đưa ba lô đựng vỏ chai bia cho Bùi Ngọc Đ1 đeo. Khoảng 20 giờ cùng ngày, nhóm tập trung ở khu vực cổng bên phải trung tâm hội nghị đối diện đền T13 liệt sỹ. Khoảng 05 phút sau có nhóm Dương Hồng T10 (xã T cũ) có 6 đến 7 người đi 3 đến 4 xe mô tô trong đó có Vũ Chí M, sinh năm 2006, trú tại thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình, Cùng lúc đó, Vũ Đức P1, sinh năm 2003, trú tại thôn T, xã T điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Tiến Đ3, sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố N, thị trấn D, Trần Việt Đ điều khiển xe gắn máy 50cc, màu đen, không nhớ biển kiểm soát đi một mình; Đỗ Đức M1, sinh năm 2006, trú tại xã T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wave S, màu xám đen, biển kiểm soát 17B6-110.38 chở Phạm Văn D đi xuống trung tâm hội nghị thị trấn D ăn uống thì gặp nhóm của Nguyễn Tiến T2 và nhóm Dương Hồng T10, sau khi ăn uống xong thì P1 rủ 02 nhóm của Nguyễn Tiến T2 và nhóm Dương Hồng T10 đi lượn, cả nhóm đồng ý. Khi đi P1 lấy 01 dao phóng lợn giấu ở bụi cây đối diện quán ăn kẹp vào pô xe cùng cả nhóm đi đến khu vực đền T13 liệt sỹ tập trung ở đây. Sau đó, Vũ Chí M nói với Bùi Ngọc Đ1: “Cho em xin ít vỏ chai bia để đi đáp nhau”, Bùi Ngọc Đ1 đồng ý rồi chia vỏ chai bia cho ba nhóm, M cầm chia cho nhóm đi cùng. Tiệp đưa cho D 2 vỏ chai bia, Bùi Ngọc Đ1 giữ lại 1 vỏ bia để đằng sau lưng Ngô Tuấn A. Cả ba nhóm rủ nhau đi xung quanh trung tâm hội nghị, nhà văn hóa huyện T, ba nhóm khoảng gần 30 người, điều khiển 15 xe gắn máy dàn hàng 2, hàng 3 phóng nhanh, với tốc độ khoảng 70km/h, lạng lách, đánh võng, nẹt pô xe, hò hét chửi nhau, những người ngồi sau cầm theo vỏ chai bia, người cầm kiếm giơ mũi kiếm hướng lên trên, riêng Trần Văn T7, Nguyễn Tiến T2 và Đinh Bá L3 cầm kiếm kéo rẽ xuống đường làm toé lửa tại đầu tiếp xúc, các nhóm trêu nhau ném vỏ chai bia xuống đường ở ba điểm là khu vực đền thờ liệt sỹ, cổng Trung tâm hội nghị và cột đèn quảng trường nhà văn hóa thị trấn D, huyện T. Ba nhóm đi khoảng 30 phút, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì tách ra đi.
Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/12/2022, Nguyễn Tiến T2 tiếp tục nhắn tin trên nhóm facebook “Anh em Thái T6” rủ đi chơi, các thành viên trong nhóm đồng ý và tập trung tại nhà Trần Văn T7, gồm: Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Đinh Bá L3, Phạm Văn A2, Bùi Ngọc Đ1, Ngô Tuấn A, Phạm Đình T4, Nguyễn Vương A3, sinh năm 2006, trú tại thôn K, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trần Văn T7 vào nhà lấy 4 kiếm, Đ1 lấy khoảng 10 vỏ chai bia. Khi đi, T4 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave màu tím than, biển kiểm soát 17B2-553.01 chở Nguyễn Tiến T2; K điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave 100 màu đen, tháo biển kiểm soát chở L3; A2 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave anpha màu đen, không rõ biển kiểm soát chở Bùi Ngọc Đ1, Trần Văn T7 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Xipo chở Phạm Thị L4, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình, mỗi xe mô tô cài 01 kiếm, Bùi Ngọc Đ1 đeo ba lô dựng vỏ chai bia, Nguyễn Vương A3 điều khiển xe mô tô chở Ngô Tuấn A ngồi sau, Đ1 đưa 2 vỏ bia cho Ngô Tuấn A. Quá trình đi, nhóm cầm theo kiếm, phóng lợn và vỏ chai bia, điều khiển xe phóng nhanh, lạng lách, đánh võng tại các khu vực đường Cách mạng tháng 8, Trung tâm hội nghị huyện, nhà văn hoá huyện T, khi xuống trung tâm hội nghị thì gặp nhóm Dương Hồng T10 có khoảng 6 người, đứng chơi với nhau trong đó có Vũ Chí M. Lúc này nhóm của Nguyễn Tiến T2 và nhóm Dương Hồng T10 gặp một nhóm thanh niên có 01 thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu SH trắng, 01 thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu Exciter hỏi nhóm: “Hôm qua có phải bọn mày đánh không?", Trần Văn T7 trả lời: “Không phải các anh nhầm rồi”, sau đó Trần Văn T7 quay lại nói với cả nhóm: “Ra hỏi xem chúng nó ở nhóm nào, đánh lại nó”, tất cả đồng ý. Trần Văn T7, Nguyễn Tiến T2, Đ1 mỗi người cầm 01 kiếm đuổi đánh nhóm thanh niên này, nhóm thanh niên bỏ chạy, nhảy qua hàng rào vào trong Trung tâm hội nghị, L3, M cầm vỏ chai bia ném vào sân Trung tâm hội nghị, có người hô “Công an kìa” thì cả nhóm dừng lại và điều khiển xe đi về.
Ngoài ra trong quá trình điều tra còn xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 26/11/2022, Nguyễn Tiến T2 nhắn tin rủ nhóm đi xuống trung tâm hội nghị thị trấn D chơi, khi đi A2 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave anpha màu đen, không rõ biển kiểm soát cho Đ1 cầm theo 01 kiếm, 02 vỏ chai bia, K điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu wave 100 màu đen, tháo biển kiểm soát chở Nguyễn Tiến T2 cầm 2 vỏ chai bia, Trần Văn A1 điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu sirius màu đỏ, biển kiểm soát 17M2-4791 cho P, L3 cầm theo 01 kiếm. Nhóm tập trung phía sau trung tâm hội nghị thị trấn D nói chuyện. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm đi một vòng xung quanh trung tâm hội nghị với tốc độ nhanh, lạng lách, đánh võng, bấm còi xe liên tục thời gian khoảng 10 phút rồi điều khiển xe đi về.
Bản án sơ thẩm số 117/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuy, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
1. Về tội danh:
- Các bị cáo Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Bùi Ngọc Đ1, Đinh Bá L3, Trần Văn A1, Cao Trung P, Ngô Tuấn A, Nguyễn Văn T3, Phạm Đình T4, Bùi Anh T9, Phạm Văn D, Trần Việt Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
2. Về hình phạt:
2.5 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
2.11 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
2.12 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Việt Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/8/2023 người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ - Bà Nguyễn Thị L, bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã kết luận, những người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bị cáo và đại diện hợp pháp, người bào chữa đều đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, tạo điều kiện cho các bị cáo cơ có hội tiếp tục học tập, lao động, sửa chữa sai lầm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ - Bà Nguyễn Thị L làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét, giải quyết theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường. Bản tự khai và biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: chị Dương Thị L5, anh Vũ Mạnh C1, chị Vũ Thị Hồng N2, chị Mai Thị T11, anh Nguyễn Văn H1, anh Ngô Văn Đ4, anh Nguyễn Văn T12, anh Lê Văn M2. Báo cáo của chính quyền địa phương, của Công an xã: T, Dương Hồng T10, thị trấn D. Biên bản giao nhân tài liệu đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 22/12/2022 và hình ảnh fanpage Cộng Đồng Diêm Điền đăng ngày 12/12/2022. Biên bản kiểm tra hành chính do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 22/12/2012 tại nhà ở của Trần Văn T7 và các tài liệu chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Vào buổi tối các ngày 10/11/2022 và ngày 11/12/2022, 26/11/2022, tại khu vực Trung tâm hội nghị thuộc Tổ dân phố B, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình các bị cáo Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Trần Văn A1, Cao Trung P, Đinh Bá L3, Nguyễn Văn T3, Bùi Ngọc Đ1, Ngô Tuấn A, Phạm Đình T4, Bùi Anh T9, Phạm Văn D, Trần Việt Đ có hành vi cùng các nhóm đối tượng thuộc thị trấn D và xã D tập trung khoảng gần 30 người, điều khiển khoảng 10 - 15 xe mô tô cầm hung khí là kiếm, vỏ chai bia thủy tinh đi với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, nẹt pô, hò hét, ném vỏ chai bia, kéo rê kiếm xuống đường; trong ngày 11/12/2022 còn có hành vi đuổi đánh nhóm thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại nơi công cộng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo phạm tội “ Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án xác định đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trước và trong khi phạm tội mặc dù các bị cáo có sự rủ rê, lôi kéo nhưng quá trình phạm tội không có sự bàn bạc, phân công câu kết chặt chẽ với nhau là phù hợp. Trong đó xác định các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D, Trần Việt Đ đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội khi được bị cáo Nguyễn Tiến T2 rủ rê, nên các phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm là có căn cứ.
Bản án sơ thẩm xác định bị cáo Ngô Tuấn A phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Các bị cáo Phạm Văn D, Trần Việt Đ đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 3 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cả 3 bị cáo đều có ông bà nội hoặc ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên mức án đối với các bị cáo là phù hợp, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo và của bà L5. Đối với yêu cầu kháng cáo xin được án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy tại thời điểm phạm tội, các bị cáo đều dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế, các bị cáo phạm tội do bị cáo T2 rủ rê; Tại giai đoạn phúc thẩm, những người đại diện cơ quan, tổ chức và nhà trường nơi các bị cáo đang học tập, lao động và sinh sống đều có đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ và cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội tự sửa chữa lỗi lầm, hoàn thành việc học tập và lao động. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều đang học tập và lao động, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì các bị cáo có đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để các bị cáo cải tạo tại địa phương, tiếp tục học tập, lao động nuôi sống bản thân và gia đình như đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị L.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo và bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ - Bà Nguyễn Thị L; Sửa bản án sơ thẩm số: 117/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt và sửa về biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D, Trần Việt Đ, cụ thể như sau:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến T2, Trần Xuân K, Bùi Ngọc Đ1, Đinh Bá L3, Trần Văn A1, Cao Trung P, Ngô Tuấn A, Nguyễn Văn T3, Phạm Đình T4, Bùi Anh T9, Phạm Văn D, Trần Việt Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 3 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/11/2023.
Giao bị cáo Ngô Tuấn A cho chính quyền xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 54, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/11/2023.
2.3 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 50, Điều 54, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Việt Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/11/2023.
Giao các bị cáo Phạm Văn D, Trần Việt Đ cho chính quyền xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Ngô Tuấn A, Phạm Văn D và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Việt Đ - Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/11/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Vũ Duy Luân |
Bản án số 88/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 88/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Ngô Tuấn A - D - Đ
