Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 99/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Cương, bà Cao Thị Chuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày 03 -11- 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST-HS ngày 17-11-2023, đối với các bị cáo:

  1. Trần Hồng Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 7 năm 1996 tại tỉnh Yên Bái; ĐKTT: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở: Số D, đường L, phường X, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Xuân T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm: 1967; vợ: Ngô Thị Thái H, sinh năm: 1995; con: Có 01 con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19-8-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.
  2. Trịnh Minh H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 10 năm 1998 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trịnh Văn T1, sinh năm 1967; con bà: Lê Thị L, sinh năm: 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 46/2016/HSST ngày 30-6-2016. Năm 2015, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 198/QĐ-XPHC ngày 06-11-2015. Năm 2018, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc bằng hình thức mua các số lô, số đề” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 66/QĐ-XPVPHC ngày 31-01-2018. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19-8-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.
  3. Lê Tuấn A; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29 tháng 4 năm 1996 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Không xác định; con bà: Lê Thị H2, sinh năm: 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19-8-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Bùi Anh D; sinh năm 1986; Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
  • - Ông Trịnh Văn T1; sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
  • - Bà Lê Thị L; sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc H3; sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 18-8-2023, Trần Hồng Q đi đến khu vực phố K, quận Đ, thành phố Hà Nội mua của một người đàn ông không quen biết 400.000 đồng được 05 viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine (thường gọi là hồng phiến) mục đích để sử dụng. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19-8-2023, Q đi xe khách từ Hà Nội về nhà bà Nguyễn Thị Thanh V (mẹ đẻ Q) ở tổ dân phố H, phường H, thành phố Y mang theo 05 viên ma túy mua ngày 18-8-2023 ở Hà Nội. Đến 12 giờ 00 phút cùng ngày, Q rủ Trịnh Minh H1 va Lê Tuấn A là bạn Q đến nhà ăn cơm, uống bia. Đến khoảng 15 giờ 00 phút thì ăn uống xong, Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Liberty, biển kiểm soát 21B1-18186 chở H1 về nhà. Trên đường về, H1 sử dụng điện thoại có số thuê bao 0869.506.535 gọi cho Q vào số máy 0383.362.286 và nói: “có làm tí không” (ý nói là H1 rủ Q sử dụng trái phép chất ma túy). Do Q đang có sẵn 05 ma túy tổng hợp loại Methamphetamine mua ở Hà Nội nên đã bảo H1: “tao còn vài con, ngồi ở đâu” (ý nói là Q đã có ma túy, hỏi H1 sử dụng ma túy ở đâu). H1 nói về nhà H1, sau đó H1 bảo Tuấn A điều khiển xe mô tô quay về nhà Q đón Q, rồi cả ba người đi về nhà H1 ở số nhà A-đường T, thuộc tổ A, phường N thành phố Y, lên phòng riêng của H1 ở tầng 2 phía bên phải cầu thang. Sau khi vào phòng, Q, H1, Tuấn A ngồi trên chiếc chiếu trải giữa nền phòng, H1 lấy 01 vỏ hộp kim loại có chữ “Exquisit” úp xuống chiếu, lấy 01 vỏ chai nước C2 trên nắp đã đục 02 lỗ và cắm 02 đoạn ống hút nước, bên trong có chứa nước (dụng cụ để sử dụng chất ma túy H1 có từ trước), để trên mặt hộp, 01 vỏ hộp kim loại có chữ “EUDORA” bên trong có nhiều đoạn ống nhựa màu sắc khác nhau, bật lửa ga, các mảnh giấy bạc. Q lấy trong túi quần 01 gói nilon màu trắng có khóa kẹp, bên trong có 05 viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine để trên mặt hộp có chữ “Exquisit”, Tuấn A xé giấy bạc thành nhiều mảnh để đốt ma túy (thường gọi là máng). Chuẩn bị công cụ, phương tiện xong, H1, Q, Tuấn A bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cho viên ma túy tổng hợp loại Methamphetamine vào mảnh giấy bạc (máng) sau đó dùng bật lửa ga đốt mảnh giấy bạc (máng) cho viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói, rồi dùng vỏ chai nước C2 có cắm 02 ống hút, hút khói ma túy qua đường miệng vào cơ thể, cụ thể:

Viên ma túy thứ nhất: H1 lấy 01 viên ma túy trong túi nilon để trên mặt hộp cho vào mảnh giấy bạc (máng) do H1 chuẩn bị, sau đó H1 dùng bật lửa ga đốt viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói, để H1 tự sử dụng, sau đó H1 đốt tiếp cho Q, Tuấn A sử dụng hết viên ma túy (hồng phiến) này.

Viên ma túy thứ hai: Khoảng 5- 10 phút sau khi sử dụng viên ma túy thứ nhất, H1 lấy viên ma túy thứ hai trong túi nilon để trên mặt hộp, cho vào mảnh giấy bạc (máng) do Tuấn A chuẩn bị, rồi dùng bật lửa ga đốt viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói để tự sử dụng, sau đó H1 đốt tiếp cho Q và Tuấn A sử dụng. Do trong mảnh giấy bạc (máng) vẫn còn ma túy chưa hết, Tuấn A tiếp tục dùng bật lửa ga đốt thành khói rồi tự sử dụng, sau đó đốt cho Q và H1 sử dụng hết viên ma túy này.

Viên ma túy thứ ba: Khoảng 5-10 phút sau khi sử dụng viên ma túy thứ hai, Q lấy 01 viên ma túy trong túi nilon để trên mặt hộp, Tuấn A cầm cho vào mảnh giấy bạc (máng) do Tuấn A chuẩn bị và dùng bật lửa ga đốt viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói để tự sử dụng, sau đó Tuấn A đốt viên ma túy cho Q và H1 sử dụng hết viên ma túy này.

Viên ma túy thứ tư: Khoảng 5-10 phút sau khi sử dụng viên ma túy thứ ba, Q lấy 01 viên ma túy trong túi nilon để trên mặt hộp, cho vào mảnh giấy bạc (máng) H1 đang cầm, H1 dùng bật lửa ga đốt viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói để tự sử dụng, sau đó H1 tiếp tục đốt viên ma túy cho Q và Tuấn A sử dụng, đến khi cháy hết viên ma túy này.

Ngay sau khi cả ba đối tượng H1, Q, Tuấn A sử dụng hết viên ma túy loại Methamphetamine (hồng phiến) thứ tư, thì bị lực lượng Công an thành phố Y, kiểm tra, phát hiện.

* Vật chứng thu giữ khi kiểm tra:

01 túi nilon có khóa kẹp viền màu đỏ, bên trong có 01 viên nén hình tròn màu đỏ có chữ “WY” (nghi là ma túy tổng hợp), 01 lọ nhựa có chữ “C2” trên nắp đục 02 lỗ, được gắn hai đoạn ống nhựa; 01 hộp kim loại màu đỏ có chữ “Exquisit”; 01 hộp kim loại màu trắng- đỏ có chữ “EUDORA” bên trong có 10 đoạn ống nhựa có màu sắc khác nhau; 02 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 05 mảnh giấy bạc.

Thu giữ của Trịnh Minh H1: 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 7 Plus đã qua sử dụng, vỏ máy màu đen, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI 358641090844498, lắp sim có số thuê bao 0889.298.535; 01 điện thoại loại bàn phím có chữ Nokia đã qua sử dụng, vỏ máy màu xanh đen có số IMEI 1 359733/06/221418/7 lắp sim có số thuê bao 0869.506.535; 01 căn cước công dân số: [...] mang tên Trịnh Minh H1.

Thu giữ của Trần Hồng Q: 01 điện thoại kiểu dáng iphone XS đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, vỏ máy màu vàng đồng có số IMEI: 357209093563993, lắp sim số 0383.362.286; 01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, mặt sau có chữ Redmi, có số IMEI 1: 861598053333747/01 lắp sim có số thuê bao 0842.066.333 và 0344.623.896; số tiền 610.000 đồng; 01 ví giả da màu đen; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Hồng Q.

Thu giữ của Lê Tuấn A: 01 điện thoại kiểu dáng iphone 6s Plus, vỏ máy màu hồng có số IMEI: 353329073249035 lắp sim có số thuê bao 0968.429.830 và 01 xe mô tô kiểu Piaggio Liberty màu ghi mang biển kiểm soát 21B1-181.86.

* Vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường: 08 đoạn ống hút nhựa màu vàng trong đó có 02 ống được cuốn một đầu bằng giấy bạc; 03 đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 05 đoạn ống hút nhựa màu vàng cam; 04 đoạn ống hút nhựa màu xanh nước biển; 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá cây, 02 đoạn ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon có chữ “ống hút nghệ thuật”, bên trong có 22 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc; 02 túi nilon dạng túi zíp có kích thước khoảng (8,04x5)cm và các mảnh giấy bạc thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 474/KL-KTHS ngày 24-8-2023 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

Viên nén màu đỏ thu giữ khi kiểm tra số nhà 116a đường T ngày 19-8-2023 có khối lượng là: 0,09 gam gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 90/ CT-VKS-TP ngày 02-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt:
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hồng Q từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Minh H1 từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Tuấn A từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái còn đề nghị giải quyết về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ đến 16 giờ ngày 19-8-2023, tại số nhà A-đường T, thuộc tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trần Hồng Q đã cung cấp ma túy Methamphetamine; Trịnh Minh H1 đã sử dụng phòng riêng của mình làm địa điểm và chuẩn bị công cụ, phương tiện để cùng với Lê Tuấn A đưa trái phép ma túy vào cơ thể. Trong đó: H1 03 lần trực tiếp dùng bật lửa ga đốt viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói tự sử dụng, sau đó đốt viên ma túy cho Q, Tuấn A sử dụng; Tuấn A gập máng, 02 lần đốt ma túy cho Q, H1 sử dụng (ở lần sử dụng viên ma túy thứ hai và thứ ba). Hành vi của các bị cáo Q, H1 và Tuấn A thuộc trường hợp “đối với hai người trở lên”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố đối với các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh thêm các tội phạm khác, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đủ nhận thức để biết được tác hại và sự nguy hiểm của ma túy đối với sức khỏe bản thân, thấy trước được tác hại của việc đưa ma túy vào cơ thể người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Đánh giá vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Các bị cáo đều có vị trí, vai trò nhất định và đều thực hiện hành vi phạm tội là đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác và đồng thời tự đưa ma túy vào cơ thể của chính mình. Trong đó, bị cáo Trần Hồng Q là người cung cấp ma túy nên giữ vai trò cao nhất; bị cáo Trịnh Minh H1 sử dụng phòng riêng của mình để làm địa điểm, đồng thời là người chuẩn bị công cụ, phương tiện cho việc sử dụng ma túy và 03 lần đốt ma túy để sử dụng cho bản thân và cho bị cáo H1, bị cáo Tuấn A sử dụng nên bị cáo H1 giữ vai trò thứ hai sau bị cáo Q; bị cáo Tuấn A gập “máng” và 02 lần đốt ma túy cho mình và Q, H1 cùng sử dụng nên có vai trò thấp nhất.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Hồng Q và Lê Tuấn A chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trịnh Minh H1 có 01 tiền án và 02 tiền sự đều đã được xóa. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về các hành vi, người và các đồ vật liên quan khác:

  • - Đối với ông Trịnh Văn T1 và bà Lê Thị L là bố mẹ đẻ của bị cáo Trịnh Minh H1, là chủ sở hữu ngôi nhà số A, tổ A, phường N, thành phố Y: Bản thân ông T1 và bà L không biết và không liên quan đến việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không xử lý là phù hợp.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Anh D đã nhận lại 01 xe mô tô kiểu dáng Piaggio Liberty màu ghi đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 21B1-181.86 theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 57/QĐ-ĐCSMT ngày 07-9-2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nguồn gốc số ma túy Trần Hồng Q khai nhận mua ma túy Methamphetamine của một người đàn ông tại khu vực phố K, quận Đ, thành phố Hà Nội, do Q không biết tên, địa chỉ, nhân thân của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có căn cứ xác minh để xử lý.
  • - Quá trình điều tra xác định 0,09 gam Methamphetamine Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y thu giữ là của Trần Hồng Q, mục đích tàng trữ để sử dụng, do chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 31-10-2023, Công an thành phố Y ra quyết định xử phạt hành chính Q về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 196/QĐXPVPHC-ĐCSMT là phù hợp.

[7] Về vật chứng và các đồ vật, tài sản tạm giữ:

  • - Đối với số ma túy có khối lượng 0,09 gam Methamphetamine thu giữ của Trần Hồng Q khi kiểm tra, cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết 0,09 gam nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ; 01 lọ bằng nhựa màu xanh có chữ “C2”, có nắp màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu xanh, một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu tím một đầu được cuốn bằng giấy bạc; 01 hộp bằng kim loại màu đỏ có chữ “Exquisit"; 01 hộp bằng kim loại màu trắng-đỏ có chữ “EUDORA”, bên trong có 10 đoạn ống nhựa có màu sắc khác nhau, 02 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng và 05 mảnh giấy bạc; 08 đoạn ống hút nhựa màu vàng trong đó có 02 ống được cuốn một đầu bằng giấy bạc; 03 đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 05 đoạn ống hút nhựa màu vàng cam; 04 đoạn ống hút nhựa màu xanh nước biển; 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá cây, 02 đoạn ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon có chữ “ống hút nghệ thuật”, bên trong có 22 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc; 02 túi nilon dạng túi zíp có kích thước khoảng (8,04x5) cm và các mảnh giấy bạc thu giữ khi khám nghiệm hiện trường: Xét có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với chiếc điện thoại loại bàn phím có chữ Nokia, vỏ máy màu xanh đen, có số IMEI1: 359733/06/221418/7, lắp sim số 0869.506.535 tạm giữ của Trịnh Minh H1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Minh H1 thừa nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc với Q vào ngày 19-8-2023 để rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy, xét là tài sản dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone XS, màn hình bị nứt vỡ, vỏ máy màu vàng đồng, có số IMEI: 357209093563993, lắp sim số 0383.362.286 tạm giữ của Trần Hồng Q: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hồng Q thừa nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc với Trịnh Minh H1 vào ngày 19-8-2023 để rủ nhau sử dụng trái phép chất ma túy, xét là tài sản dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thoại loại màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, mặt sau có chữ Redmi, có số IMEI1: 861598053333747/01, lắp sim số 0842.066.333 và 0344.623.896; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Hồng Q và số tiền 610.000 đồng tạm giữ của Trần Hồng Q: Xét không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ máy màu đen, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI: 358641090844498, lắp sim số 0889.298.535 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trịnh Minh H1 tạm giữ của Trịnh Minh H1: Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 6s Plus, vỏ máy màu hồng, có số IMEI: 353329073249035, lắp sim số 0968.429.830 tạm giữ của Lê Tuấn A: Xét không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Tuấn A thuộc hộ cận nghèo. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Tuấn A.

[10] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hồng Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023.

2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023.

2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • - 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ; 01 lọ bằng nhựa màu xanh có chữ “C2”, có nắp màu đỏ được đục hai lỗ, một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu xanh, một lỗ được cắm đoạn ống nhựa màu tím một đầu được cuốn bằng giấy bạc; 01 hộp bằng kim loại màu đỏ có chữ “Exquisit”; 01 hộp bằng kim loại màu trắng-đỏ có chữ “EUDORA”, bên trong có 10 đoạn ống nhựa có màu sắc khác nhau; 02 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng và 05 mảnh giấy bạc.
  • - 08 đoạn ống hút nhựa màu vàng trong đó có 02 ống được cuốn một đầu bằng giấy bạc; 03 đoạn ống hút nhựa màu đỏ; 05 đoạn ống hút nhựa màu vàng cam; 04 đoạn ống hút nhựa màu xanh nước biển; 03 đoạn ống hút nhựa màu xanh lá cây; 02 đoạn ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon có chữ “ống hút nghệ thuật”, bên trong có 22 đoạn ống hút nhựa nhiều màu sắc; 02 túi nilon dạng túi zíp có kích thước khoảng (8,04x5)cm và các mảnh giấy bạc.

3.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + 01 điện thoại loại bàn phím có chữ Nokia, vỏ máy màu xanh đen, có số IMEI1: 359733/06/221418/7, lắp sim số 0869.506.535 của bị cáo Trịnh Minh H1.
  • + 01 điện thoại kiểu dáng Iphone XS, màn hình bị nứt vỡ, vỏ máy màu vàng đồng, có số IMEI: 357209093563993, lắp sim số 0383.362.286 của bị cáo Trần Hồng Q.

3.3. Trả lại cho:

  • - Bị cáo Trần Hồng Q: 01 điện thoại loại màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, mặt sau có chữ Redmi, có số IMEI1: 861598053333747/01, lắp sim số 0842.066.333 và 0344.623.896; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Hồng Q và số tiền 610.000 đồng.
  • - Bị cáo Trịnh Minh H1: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trịnh Minh H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, vỏ máy màu đen, màn hình bị nứt vỡ, có số IMEI: 358641090844498, lắp sim số 0889.298.535.
  • - Bị cáo Lê Tuấn A: 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 6s Plus, vỏ máy màu hồng, có số IMEI: 353329073249035, lắp sim số 0968.429.830.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03-11-2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Hồng Q và Trịnh Minh H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về mức thu, giảm, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Tuấn A được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Bộ phận HSNV Công an TP Yên Bái;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NVLQ;
  • - Lưu HS vụ án, TA, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 99/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hồng Q, Trịnh Minh H1 và Lê Tuấn A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: 2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hồng Q 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023. 2.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Minh H1 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023. 2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19-8-2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger