Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 99/2023/HNGĐ-ST

Ngày 30-10-2023

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền ;

Bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 131/2023 /QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị T, sinh năm 1990; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Hiện nay chị T đang đi lao động tại Đài Loan.

- Bị đơn: Anh Bùi Thanh T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lưu Thị T trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Thanh T1 đăng ký kết hôn ngày 11/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên năm 2016 chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Quá trình lao động tại Đài Loan anh chị vẫn liên lạc nhưng vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Năm 2022 chị T nghỉ phép về Việt Nam nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung mà mâu thuẫn trầm trọng hơn nên từ năm 2022 chị T tiếp tục sang Đài Loan lao động vợ chồng chị không liên lạc với nhau nữa. Nay chị T xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh T1.

+Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Bùi Thanh G, sinh ngày 28/01/2015. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – anh Bùi Thanh T1 trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn của vợ chồng anh đúng như chị T đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Do kinh tế gia đình khó khăn nên năm 2016 chị T đi lao động tại Đài Loan. Quá trình chị T lao động tại Đài Loan vợ chồng anh xảy ra nhiều mâu thuẫn. Đến năm 2022 chị T về Việt Nam, anh T1 muốn chị T ở nhà chăm sóc con cái nhưng chị T không ở nhà mà tiếp tục sang Đài Loan lao động và muốn ly hôn anh T1 vì thế mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Nay anh T1 xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, cả hai không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm đến nhau nên anh T1 đồng ý ly hôn chị T.

+Về con chung: Anh T1 xác định vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Bùi Thanh G, sinh ngày 28/01/2015. Hiện nay cháu G đang do anh trực tiếp nuôi dưỡng, cháu G học gần nhà, điều kiện học tập và phát triển thể chất tốt. Anh T1 làm công nhân nhưng thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm lo cho cháu G. Ngoài ra mẹ anh T1 còn khỏe cũng hỗ trợ anh chăm sóc cháu. Vì vậy, ly hôn anh T1 đề nghị Tòa án giao con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Bùi Thanh T1, giao con Bùi Thanh G, sinh ngày 28/01/2015 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho các đương sự, các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa theo đúng quy định Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Cả chị T và anh T1 đều xác định hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và không quan tâm đến nhau. Như vậy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, có duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc nên cần xử cho chị T ly hôn anh T1 là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh T1 đều xác định anh chị có 01 con chung là Bùi Thanh G, sinh ngày 28/01/2015. Hiện nay cháu G đang do anh T1 nuôi dưỡng, chị T ở nước ngoài không thể trực tiếp nuôi con chung; Hơn nữa, cháu G có nguyện vọng được ở với anh T1 khi anh chị ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cuộc sống của cháu G đang ổn định, cháu G được học tập và phát triển tốt, để ổn định cuộc sống cho cháu G, cần tiếp tục giao cháu G cho anh T1 nuôi dưỡng. Anh T1 không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 đều xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lưu Thị T được ly hôn anh Bùi Thanh T1.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Bùi Thanh T1 trực tiếp nuôi con chung Bùi Thanh G, sinh ngày 28/01/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Lưu Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị T nộp tại biên lai số 0005709 ngày 08/8/2023 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự. Chị Lưu Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; Anh Bùi Thanh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình
  • - Đương sự.
  • - UBND xã Tân Bình, TP. Thái Bình
  • - Lưu

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Thị Thêu Hoàng Thị Thu Hiền

THẨM PHÁN CHỦ TỌA - PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 99/2023/HNGĐ-ST ngày 30/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 99/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Thị T xin ly hôn với anh Bùi Thanh T1, có 01 con chung và không có tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger