|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 989/2023/HS-PT
Ngày 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Mai Văn Quang |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Văn Thành |
| Ông Nguyễn Đăng Phong | |
| - Thư ký phiên toà: | Bà Hoàng Thị Thu Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: | Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên |
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 848/2023/HSPT ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Đình Ng do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã S, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Đình Ng, sinh năm 1987; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố 1, phường Tr, thị xã S, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Đình Ng và bà Kiều Thị H; vợ Nguyễn Hà Thu Tr và có 03 con (Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không; hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại không kháng cáo: Công ty TNHH Một thành viên chuyển phát nhanh Ph – Chi nhánh Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 6, Tháp C Tòa nhà CenTral Filetd, số 219, đường Trung Kính, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Thu D; Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh; Đại diện ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ng Gi, sinh năm 1996; Địa chỉ: N3A, đường Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội (vắng mặt do không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã S, Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân Thị xã S, Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình Ng là nhân viên hợp đồng của Công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh Ph - Chi nhánh Hà Nội, Ng được Công ty Ph phân công về làm bưu tá tại bưu cục Trung Sơn Trầm - Thị xã S - Hà Nội; Ng được giao nhiệm vụ nhận hàng của người gửi từ bưu cục rồi đi giao hàng, thu tiền hàng, phí vận chuyển (nếu có) từ người nhận hàng (COD) về nộp cho Công ty. Sau mỗi ngày làm việc Ng phải về nộp lại số tiền thu hộ tương ứng với những đơn hàng đã giao thành công cho nhân viên giao dịch bưu cục để đối soát và trả lại tiền thu hộ cho người gửi; Đối với những đơn hàng chưa giao được Ng phải nộp lại vào kho của bưu cục để hôm sau đi giao lại. Trong thời gian từ ngày 25/10/2022 đến ngày 01/11/2022, Ng được Công ty Ph giao cho 73 đơn hàng; Ng đã giao thành công cho 73 đơn hàng khách hàng và thu được tổng số 128.031.750 đồng tiền cho Công ty. Tuy nhiên trong thời gian này do cần tiền ăn tiêu nên Ng đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên của Công ty Ph. Do vậy, Ng đã báo về Công ty trên APP (là ứng dụng làm việc của Công ty Ph) là chưa giao hàng thành công hoặc khách hàng hẹn lịch khác để không phải nộp tiền về Công ty để chiếm đoạt 128.031.750 đồng của Công ty Ph. Ngày 01/11/2022, thì Ng tự ý nghỉ làm việc.
Việc thu tiền hàng được Ng thực hiện bằng hình thức: Khách hàng khi nhận hàng có thể thanh toán tiền mặt cho Ng hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Ng số 1012938159 mở tại ngân hàng Vietcombank - Chi nhánh Đan Phượng và số 0967731987 mở tại ngân hàng MB - Chi nhánh S.
Quá trình điều tra xác định: Trong số 73 đơn hàng giao thành công cho các khách hàng trên địa bàn thị xã S thì Ng thu về được tổng số tiền cho Công ty Ph là 128.031.750 đồng nhưng Ng không nộp lại cho Công ty mà chiếm đoạt ăn tiêu hết. Cụ thể khách hàng là:
- Các khách hàng đã nhận hàng và thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 0967731987 của Nguyễn Đình Ng mở tại Ngân hàng MB - Chi nhánh S với tổng số tiền là 53.935.000 đồng, gồm có: Nguyễn Thị Kim Thu - Sinh năm: 1982, ở Ngõ 61, Thuần Nghệ - Quang Trung - Thị xã S, số tiền là 14.000.000 đồng. Vũ Hương Thúy - Sinh năm: 1989, ở Số 47, Trần Hưng Đạo - Ngô Quyền - Thị xã S, số tiền là 9.262.000 đồng. Nguyễn Việt Đông - Sinh năm: 1973, ở Số 14, Hoàng Diệu - Quang Trung - Thị xã S, số tiền là 6.975.000 đồng. Dương Thị Hồng Yến - Sinh năm: 1978, ở Số 54 Quang Trung - Quang Trung - Thị xã S, số tiền 4.100.000 đồng. Nguyễn Anh Tuấn- Sinh năm: 1982, ở Số 212, Chùa Đổ - Thanh Vị - Thanh Mỹ - Thị xã S, số tiền là 9.808.000 đồng. Bùi Diệu Linh - Sinh năm: 1990, ở Số 97, Ngô Quyền - Ngô Quyền - Thị xã S, số tiền là 4.300.000 đồng. Nguyễn Xuân Trung - Sinh năm: 1972, ở Số 8d, Chùa Mới - Ngô Quyền - Thị xã S, số tiền là 2.390.000 đồng. Nguyễn Anh Tuấn - Sinh năm: 1996, ở Số 15 Phú Nhi - Phú Thịnh - Thị xã S, số tiền là 3.190.000 đồng.
- Các khách hàng đã nhận hàng và trả tiền mặt cho Ng với số tiền là 65.825.000 đồng, gồm có: Chu Ng Toàn - Sinh năm: 1980, ở Số 118b, Phùng Khắc Khoan - Quang Trung - Thị xã S, số tiền là 21.344.000 đồng. Nguyễn Khánh Ly - Sinh năm: 2005, ở Thiên Lộc - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 810.000 đồng. Mỗ Thị Mơ - Sinh năm: 1986,ở Thống Nhất - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 35.000 đồng. Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Sinh năm: 1984, ở Chùa Khai Nguyên - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 8.260.000 đồng. Lương Thị Nga - Sinh năm: 1993, ở Đoàn Kết - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 1.702.000 đồng. Cao Thị Huyền Trang - Sinh năm: 1998, ở Trung Tâm - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 1.750.000 đồng. Nguyễn Thị Nguyệt Tú - Sinh năm: 1977, ở Tân Phú - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 8.440.000 đồng. Đặng Quang Đăng - Sinh năm: 1987, ở Cầu 10 - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 992.600 đồng. Vương Thị Hường - Sinh năm: 1997, ở Thôn 2 - Dân Hòa - Quốc Oai - Hà Nội, số tiền là 599.720 đồng. Nguyễn Thị Hà - Sinh năm: 1976, ở Phúc Lộc - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 159.000 đồng. Trịnh Thị Thơ - Sinh năm: 1983, số tiền là 630.000 đồng, Trần Đức Sơn - Sinh năm: 1964, số tiền là 1.400.000 đồng. Nguyễn Thị Thu Trang - Sinh năm: 1993, số tiền là 163.500 đồng. Hoàng Thị Thương - Sinh năm: 1989, số tiền là 237.000 đồng. (tất cả đều ở Triều Đông - Cổ Đông - Thị xã S). Hà Thị Oanh -Sinh năm: 1964, số tiền là 234.000 đồng. Đinh Quốc Vũ - Sinh năm: 2003, số tiền là 50.000 đồng. Nguyễn Thị Hoa - Sinh năm: 1988, số tiền là 160.000 đồng. Nguyễn Thị Hiền - Sinh năm: 1976, số tiền là 710.000 đồng. Nguyễn Thị Hường - Sinh năm: 1979, số tiền là 104.000 đồng. Phùng Thị Phương - Sinh năm: 1995, số tiền là 170.200 đồng. Bùi Văn Thạo - Sinh năm: 1992, số tiền là 700.000 đồng. Phùng Văn Mỵ - Sinh năm: 1965, số tiền là 820.000 đồng. Nguyễn Văn Chung - Sinh năm: 1984, số tiền là 200.000 đồng. Hà Thị Tâm - Sinh năm: 1982, số tiền là 1.127.000 đồng. (tất cả đều ở La Gián - Cổ Đông - Thị xã S). Nguyễn Anh Minh - Sinh năm: 2009, ở Số 204, Thanh Vị - Sơn Lộc - Thị xã S, số tiền là 1.000.000 đồng. Vũ Văn Thủy - Sinh năm: 1973, ở Đồng Trạng - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 15.000.000 đồng. Nguyễn Thị Hoa - Sinh năm: 1990, ở Số 390, Chùa Thông - Sơn Lộc - Thị xã S, số tiền là 1.525.000 đồng. Nguyễn Duy Huy - Sinh năm: 1998, số tiền là 65.000 đồng. Nguyễn Năng Sơn - Sinh năm: 1988, số tiền là 309.000 đồng. Nguyễn Thị Nga - Sinh năm: 2007, số tiền là 79.000 đồng. Đỗ Thu Hà - Sinh năm: 2006, số tiền là 1390.000 đồng. Nguyễn Duy Hữu - Sinh năm: 2000, số tiền là 750.000 đồng. Phùng Thị Thảo - Sinh năm: 1993, số tiền là 127.500 đồng (tất cả đều ở Tân Phúc - Sơn Đông - Thị xã S). Nguyễn Thị Linh - Sinh năm: 1994, ở Trại Hồ - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 765.000 đồng. Khuất Thị Sen - Sinh năm: 1989, ở Thiên Mã - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 75.000 đồng. Đỗ Thị Thu Ngà - Sinh năm: 1973, số tiền là 396.000 đồng. Hà Thị Thanh Hải - Sinh năm: 1982, số tiền là 160.000 đồng. Nguyễn Nho Nhân - Sinh năm: 1971, số tiền là 650.000 đồng. (tất cả đều ở Đoàn Kết - Cổ Đông - Thị xã S). Khuất Thị Sen - Sinh năm: 1992, số tiền là 740.000 đồng. Nguyễn Khánh Ly - Sinh năm: 2005,số tiền là 810.000 đồng (cả hai ở Thiên Lộc - Cổ Đông - Thị xã S). Lê Thị Kim Thanh - Sinh năm: 1981, ở Số 23 ngõ 401, đường Cổ Đông - Trại Hồ - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 250.000 đồng. Lê Hoàng Bốn - Sinh năm: 1971, ở khu Tập thể trường Sỹ quan Lục quân 1 - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 299.000 đồng. Nguyễn Khánh Ly - Sinh năm: 2005,
Đối với các khách hàng có thông tin là: Quý Hà có số điện thoại 0828.033.xxx, ở Trại Hồ - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 30.000 đồng; Ng Yến có điện thoại 0706.845.xxx, ở Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 230.200 đồng; Dương Đỗ có số điện thoại: 0862.401.xxx, ở Đường Triều Đông 86 - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 124.999 đồng; Phùng Thanh Thủy có số điện thoại 0968.822.xxx, ở Số 3 ngõ 44, cầu 10 - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 299.000 đồng; Thèn Thị Ơn có số điện thoại 0966.532.xxx, ở Sân gôn Kings IsLand Đồng Mô - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 80.000 đồng; Nguyễn Thị Anh có số điện thoại 0985.581.xxx, ở Đồng Mô - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 80.300 đồng; Huyền có số điện thoại 0799.803.xxx, ở Số nhà 4 gần cầu Đồng Mô gần quán Phương Nam - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 173.500 đồng; Trinh Trinh có số điện thoại 0705.372.xxx, ở Đường đôi Đồng Mô - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 69.000 đồng; Nguyễn Đức Anh có số điện thoại 0961.880.xxx, ở Thiên Mã Vĩnh Lộc - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 309.900 đồng; Thiên Phú có số điện thoại 0971.175.xxx, ở Thiên Mã - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 510.000 đồng; Nhi có số điện thoại 0335.451.xxx, ở Triều Đông - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 850.000 đồng; Ng xíu có số điện thoại 0969.593.xxx, ở Karaoke Hoàng Gia - Sơn Đông - Thị xã S, số tiền là 576.000 đồng; Nam có số điện thoại 0987.310.xxx, ở Thuần Nghệ - Quang Trung - Thị xã S, số tiền là 3.100.000 đồng; Mai Hương có số điện thoại 0369.060.xxx, ở Thị xã S, số tiền là 610.000 đồng; Thinh Nguyen Quoc có số điện thoại 0393.955.xxx, ở Ngã tư Lục Quân - Cổ Đông - Thị xã S, số tiền là 399.000 đồng. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng hiện không xác định được nơi ở của những người này đang ở đâu nên Cơ quan điều tra không tiến hành lấy được lời khai.
Sau khi phát hiện Nguyễn Đình Ng đã chiếm đoạt tiền thì ngày 18/11/2022, Công ty Ph đã làm đơn trình báo với Cơ quan điều tra. Trong quá trình điều tra, xác minh thì ngày 27/11/2022 và ngày 08/12/2022, Ng đã trả lại cho Công ty Ph số tiền là 64.000.000 đông.
Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Ng G là cán bộ pháp chế doanh nghiệp được Giám đốc Công ty TNHH một thành viên chuyển phát nhanh Ph - chi nhánh Hà Nội ủy quyền tham gia tố tụng. Bà G trình bày Công ty Ph đã ứng tiền để thanh toán số tiền thu hộ(COD) cho các khách hàng. Hiện Ng chưa nhận lương tháng 10/2022 là 12.359.000 đồng và tiền Ng ký Quỹ là 10.000.000 đồng và Công ty đã nhận 64.000.000 đồng do Ng nộp lại. Bà G yêu cầu Ng tiếp tục phải trả cho Công ty Ph số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 41.672.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2023/HSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân Thị xã S, thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ng phạm tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Đình Ng 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/8/2023, bị cáo Nguyễn Đình Ng có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/10/2022 đến ngày 01/11/2022, Nguyễn Đình Ng lợi dụng việc Công ty Ph giao cho 73 đơn hàng để giao và thu tiền của khách. Tuy nhiên, sau khi thu được số tiền 128.031.750 đồng của khách, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên và tự ý nghỉ việc. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Mặc dù tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại; tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 36 tháng tù và không cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Bị cáo phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự, nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết nêu trên đối với bị cáo là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/10/2022 đến ngày 01/11/2022, Nguyễn Đình Ng lợi dụng việc Công ty Ph giao cho 73 đơn hàng để giao cho khách trên địa bà thị xã S và thu tiền của khách. Tuy nhiên, sau khi thu được số tiền 128.031.750 đồng của khách, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền trên và tự ý nghỉ việc. Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã khắc phục số tiền 86.359.000 đồng cho bị hại. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đình Ng về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội nên cân phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm trừng phạt, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù là cần thiết. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết mới giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, có cơ sở giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo phạm tội nhiều lần, nên theo quy định của pháp luật, bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, xử:
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ng 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đầu thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Đình Ng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 28/11/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Quang |
Bản án số 989/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 989/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Ng phạm tội theo khoản 2 Điều 175 BLHS
