Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 986/2024/HS-PT

Ngày 22 - 10 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Ông Ngô Đức Thọ

2/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Lê Tấn Cường, Kiểm sát viên cao

cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 22/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 797/2024/TLPT-HS ngày

29/8/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Vương Trung T, đối với Bản án hình sự sơ

thẩm số 132/2024/HSST ngày 18/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo kháng cáo: Vương Trung T, sinh năm 1988 tại Đồng Nai; Hộ khẩu

thường trú: ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp T, xã X, huyện X,

tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Giới tính: Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Trung T1

và bà Phạm Thị D; Vợ Mai Thị H, có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự:

Không; Nhân thân: Ngày 15/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử

phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Tạm giam ngày

21/02/2023 (Có mặt).

Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N, thuộc

Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Trong vụ án này có 8 người bị hại và 6 người có quyền, nghĩa vụ liên quan,

nhưng không có kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vương Trung Tá đăng ký kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ôtô tự lái tại ấp T,

xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, sau đó T sử dụng địa điểm này để thuê xe ôtô của

nhiều người khác, rồi mang đi thế chấp lấy tiền tiêu xài. Từ tháng 8/2022 đến tháng

02/2023 T đã nhiều lần thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và

lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

1/ Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Ngày 01/7/2022, T thỏa thuận với anh Nguyễn Hữu T2 sinh năm 1984 và

anh Nguyễn K sinh năm 1982 cùng thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng

Nai thuê 04 chiếc xe ôtô và anh T2 làm người đại diện ký hợp đồng cho T thuê 01

xe ôtô nhãn hiệu Huyndai i10, biển số 51G-041.40, trị giá 200.000.000đồng, 01 xe

ôtô nhãn hiệu Honda City, biển số 60K-128.59 trị giá 315.000.000đồng, 01 xe ôtô

nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A-672.14, trị giá 390.000.000đồng và xe ôtô nhãn

hiệu Mazda 3, biển số 60K-155.56, trị giá 372.000.000đồng với giá từ

10.000.000đồng đến 12.000.000đồng/tháng, thời hạn thuê từ ngày 01/7/2022 đến

ngày 30/6/2023.

Sau đó, ngày 09/8/2022, T tiếp tục thỏa thuận với anh Phạm Đức C sinh năm

1994, thường trú tại ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để thuê chiếc xe ôtô nhãn

hiệu Toyota Altis, biển số 60A-736.87, trị giá 75.000.000đồng với giá

7.000.000đồng/tháng.

Sau khi thuê các xe ôtô nói trên, T nảy sinh ý định chiếm đoạt các xe ôtô nên

đã mang đi cầm cố để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân cụ thể như sau:

Tháng 8/2022 (không rõ ngày), T cầm cố xe ôtô nhãn hiệu Huyndai i10, biển

số 51G-041.40 cho chị Đinh Thị Ý N1, sinh năm 2000, thường trú tại ấp D, xã X,

huyện C, tỉnh Đồng Nai lấy số tiền 130.000.000đồng (Một trăm ba mươi triệu

đồng).

Ngày 10/9/2022, T mang xe ôtô nhãn hiệu Honda City, biển số 60K-128.59

đến tiệm cầm đồ “24/24” tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cầm cố cho anh

Vĩnh T3, sinh năm 1984 lấy số tiền 170.000.000đồng (Một trăm bảy mươi triệu

đồng).

Ngày 30/12/2022, T mang xe ôtô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A-672.14

đến tiệm cầm đồ “368” tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cầm cố cho chị

Nguyễn Thị M, sinh năm 1991 lấy số tiền 245.000.000đồng (Hai trăm bốn mươi

lăm triệu đồng).

Ngày 30/12/2022, T mang xe ôtô nhãn hiệu Toyota Altis, biển số 60A-

736.87 cầm cố cho anh Võ Văn Quang P, sinh năm 1992 thường trú tại ấp T, xã X,

huyện X, tỉnh Đồng Nai lấy số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Tháng 11/2022 (không rõ ngày), T nhờ Hoàng Nhật L, sinh năm 1992,

thường trú tại ấp D, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, giúp T cầm cố xe ôtô nhãn hiệu

Mazda 3, biển số 60K-155.56. Sau đó, L nhờ Trần Bình T4, sinh năm 1984 thường

trú tại KP4, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mang xe nói trên cầm cố cho

anh Trần Quốc V, sinh năm 1988, thường trú tại KP12, phường A, thành phố B lấy

số tiền 230.000.000đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng), nhưng L chỉ đưa lại cho T

số tiền 110.000.000đồng (Một trăm mười triệu đồng).

2/ Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Khoảng tháng 11/2022, T vay mượn tiền đầu tư kinh doanh quán cà phê.

Đến tháng 01/2023, do việc kinh doanh quán cà phê thua lỗ, không đủ tiền để trả

nợ nên T nảy sinh ý định thuê xe ôtô để chiếm đoạt mang đi thế chấp lấy tiền, cụ

thể như sau:

Ngày 09/01/2023, T đến nhà anh Huỳnh Văn Trung H1, sinh năm 1990, ngụ

tại ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thỏa thuận thuê xe ôtô nhãn hiệu Toyota

Innova, biển số 51F-300.50 trị giá 230.000.000đồng với giá 700.000đồng/ngày,

thời hạn thuê từ ngày 09/01/2023 đến ngày 16/01/2023. Sau khi thuê xe, cùng ngày

T mang xe đến tiệm sửa xe “Lắc” thuộc phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

cầm cố cho Hoàng Nhật L, sinh năm 1992, thường trú tại ấp D, xã X, huyện C, tỉnh

Đồng Nai lấy 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).

Ngày 26/01/2023, T đến nhà anh Vũ Xuân T5, sinh năm 1993, thường trú tại

KP2, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai thỏa thuận thuê xe ôtô nhãn hiệu

Mitsubishi Attrage, biển số 60E-000.63 trị giá 263.000.000đồng với giá

700.000đồng/ngày. Đến ngày 06/02/2023, T mang xe ôtô biển số 60E-000.63 đến

cầm cố cho anh Hồ Ngọc D1, sinh năm 1993, thường trú tại KP2, thị trấn G, huyện

X, tỉnh Đồng Nai lấy số tiền 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Ngày 07/02/2023, T ký hợp đồng thuê xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander,

biển số 60K-076.86 trị giá 568.000.000đồng của anh Trương Bảo H2, sinh năm

1992, thường trú tại xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai với giá 15.000.000đồng/tháng,

thời hạn thuê từ ngày 07/02/2023 đến ngày 07/05/2023. Đến ngày 08/02/2023, T

mang xe 60K-076.86 cầm cố cho anh Hồ Ngọc D1 sinh năm 1993, thường trú tại

KP2, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai lấy số tiền 150.000.000đồng (Một trăm

năm mươi triệu đồng).

Tháng 02/2023 (không rõ ngày), T nhờ anh Phùng Lạc D2, sinh năm 1996,

thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai tìm người cho thuê xe để phục

vụ công việc kinh doanh. Sau đó, anh D2 nói với anh Nguyễn Công T6, sinh năm

1983, thường trú tại ấp T, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai về việc cho T thuê xe,

nên ngày 15/02/2023, T và anh T6 ký hợp đồng thuê xe ôtô nhãn hiệu Toyota

Innova, biển số 60A-534.60 trị giá 138.000.000đồng với giá

12.000.000đồng/tháng, thời hạn thuê từ 15/02/2023 đến ngày 15/08/2023. Sau khi

thuê xe, cùng ngày T hẹn gặp anh Phạm Đức C, sinh năm 1994, thường trú tại ấp S,

xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để hỏi vay thêm tiền (trước đó, T vay của anh Phạm

Đức C số tiền 85.000.000đồng) nhưng anh C không đồng ý. Lúc này, T nói với anh

C sẽ cầm cố xe ôtô biển số 60A-534.60 cho anh C và nói với anh C xe này của T

mua dưới dạng hợp đồng ủy quyền, T sẽ đưa hợp đồng ủy quyền cho anh C sau. Do

tin tưởng lời T nói nên anh C đồng ý cho T vay thêm số tiền 50.000.000đồng (Năm

mươi triệu đồng).

Ngày 18/02/2023, T gọi điện cho anh Phùng Lạc D2 nhờ thuê 01 xe ôtô để

phục vụ công việc kinh doanh. Do có mối quan hệ với ông Trần Văn L1, sinh năm

1968, thường trú tại ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai nên anh D2 liên hệ với ông

L1 để thuê xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage biển số 60K-051.36 trị giá

365.000.000đồng. Để ông L1 tin tưởng cho thuê xe, anh D2 nói dối ông L1 là thuê

chạy chở khách. Ông L1 đồng ý. Sáng ngày 19/02/2023, anh D2 đến gặp ông L1

nhận xe. Sau đó, anh D2 gọi điện nói với ông L1 là khách của mình hủy chuyến

nhưng giờ có người thuê với giá 1.000.000đồng/ngày, trong vòng 01 tuần thì ông

L1 có cho thuê không. Ông L1 đồng ý cho thuê nên anh D2 đưa xe cho T. Sau khi

nhận xe, T nói với anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1994, thường trú tại ấp S, xã S,

huyện X, tỉnh Đồng Nai là chiếc xe này của T đang kinh doanh và nhờ anh T7

mang đến cầm cố tại tiệm cầm đồ “368”, rồi T sẽ trả số tiền nợ trước đó T đã mượn

của anh T7. Do tin tưởng lời T nói nên anh T7 mang xe đến cầm cố tại tiệm cầm đồ

“368” của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1991, thường trú tại ấp T, xã X, huyện X,

tỉnh Đồng Nai. Khi cầm cố anh T7 nói với chị M xe này của anh T7. Do tin tưởng

nên nên chị M đồng ý nhận cầm cố với số tiền 80.000.000đồng (Tám mươi triệu

đồng). Sau khi nhận tiền, anh T7 đưa tiền cho T và T trả cho anh T7 số tiền nợ

trước đó là 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ còn

làm rõ: Vào khoảng tháng 5/2022, T thỏa thuận thuê chiếc xe ôtô nhãn hiệu Ford

Ranger, biển số 60C-568.74 trị giá 495.000.000đồng của anh Bùi Văn T8, sinh năm

1990, thường trú tại ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai với giá

12.000.000đồng/tháng để kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ôtô tự lái. Đến tháng

8/2022, T thỏa thuận miệng cho Hoàng Nhật L, sinh năm 1992, thường trú tại ấp D,

xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thuê lại chiếc xe ôtô này với giá 800.000đồng/ngày.

Đến khoảng tháng 11/2022, anh Phạm Vy Quang V1, sinh năm 1990, thường trú tại

ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai (con nuôi của bố L) nói với L là đang cần 01

chiếc xe ôtô bán tải để phục vụ công việc và hỏi L có xe nào không thì đưa cho anh

V1 mượn. L đưa xe ôtô nhãn hiệu Ford Ranger, biển số biển số 60C-568.74 cho

anh V1 mượn và nói với anh V1 là xe này L thuê và người ta đồng ý việc L cho

thuê lại. Sau đó, T không thấy L trả tiền thuê xe nên hỏi thì L nói với T đã giao xe

cho người khác thuê và cho L thời gian để lấy lại xe. Tá nói lại với anh T8 và anh

T8 đồng ý việc L giao xe cho người khác.

Vật chứng thu giữ:

01 xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage, biển số 60K-051.36; 01 (một) giấy

chứng nhận đăng ký xe ôtô số 60032371 do Phòng C1 Công an tỉnh Đ cấp ngày

19/01/2022; 01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA0755439 cấp ngày 19/01/2022.

01 xe ôtô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A-672.14; 01 Giấy chứng nhận

kiểm định số 0774807 cấp ngày 10/02/2022; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự

nguyện ôtô số OTOBB220005294.

01 xe ôtô nhãn hiệu Mazda 3, biển số 60K-155.56; 01 Giấy chứng nhận đăng

ký xe ôtô biển số 60K-155.56, mang tên Nguyễn K do Công an huyện X, tỉnh Đồng

Nai cấp ngày 08/7/2022; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ

môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, đối với xe ôtô biển số 60K-

155.56.

01 xe ôtô nhãn hiệu Honda City, biển số 60K-128.59; 01 Giấy chứng nhận

đăng ký xe ôtô số 6000163, mang tên Nguyễn Thị H3 do Công an huyện X, tỉnh

Đồng Nai cấp ngày 29/6/2022, biển số 60K-128.59.

01 xe ôtô nhãn hiệu Hyundai i10, biển số 51G-041.40; 01 Giấy chứng nhận

đăng ký xe ôtô biển số 51G-041.40 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành

phố C1 cấp ngày 05/4/2018.

01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Innova, biển số 51F-300.50; 01 Giấy kiểm định

xe 51F-300.50; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 314254, mang tên Nguyễn

Văn T9, biển số xe 51F-300.50 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an Thành phố

C1 cấp ngày 31/10/2017.

01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Innova, biển số 60A-534.60; 01 Giấy chứng

nhận đăng ký xe ôtô số 132634 do Phòng C1 Công an tỉnh Đ cấp ngày 10/6/2020;

01 Giấy chứng nhận kiểm định số DA2389509 do Trung tâm Đ chi nhánh Đ1 cấp

ngày 18/10/2022.

01 xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Attrage, biển số 60E-000.63.

01 xe ôtô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander Cross, biển số 60K-076.86.

01 xe ôtô nhãn hiệu Ford Ranger, biển số 60C-568.74.

01 xe ôtô nhãn hiệu Toyota Corolla, biển số 60A-736.87; 01 giấy chứng

nhận đăng ký xe ôtô biển số 60A-736.87, mang tên Nguyễn Phúc T10, địa chỉ: ấp

A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

01 Hợp đồng thuê xe ôtô, bên cho thuê: Trương Bảo H2, bên thuê: Vương T,

đề ngày 07/02/2023.

01 Hợp đồng thuê xe ôtô, bên cho thuê: Nguyễn Công T6, bên thuê: Vương

T, đề ngày 15/02/2023.

01 Hợp đồng thuê xe ôtô, bên cho thuê: Nguyễn Hữu T2, bên thuê: Vương

T.

01 Biên nhận cầm đồ của cơ sở cầm đồ 368, nhận cầm của ông, bà: Vương

Trung T, đề ngày 30/12/2022.

01 bản giấy than Biên nhận của tiệm dịch vụ cầm đồ “24/24”, nhận của ông,

bà: Vương Trung T, đề ngày 10/9/2022.

01 giấy xác nhận, đứng tên Vương Trung T, đề ngày 06/02/2023.

01 giấy mượn tiền mang tên Võ Văn Q Phục cho V Trung Tá mượn số tiền

50.000.000đồng, đề ngày 16/01/2023.

01 giấy mượn tiền mang tên Phạm Đức C cho V Trung tá mượn

135.000.000đồng, đề ngày 15/02/2023.

01 Biên nhận cầm đồ của cơ sở cầm đồ “368”, nhận cầm của ông, bà:

Nguyễn Văn T7, đề ngày 19/02/2023.

Tại Kết luận định giá tài sản số 4201/STC-HĐĐGTSTTTHS ngày 20/7/2023

của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đồng Nai kết luận: xe ôtô

H4 i10, biển số 51G-041.40 trị giá 200.000.000đồng; xe ôtô Honda City biển số

60K-128.59 trị giá 315.000.000đồng; xe ôtô Kia Rondo, biển số 60A-672.14 trị giá

390.000.000đồng; xe ôtô Toyota Corolla, biển số 60A-736.87 trị giá

75.000.000đồng; xe ôtô Toyota Innova, biển số 51F-300.50 trị giá

230.000.000đồng; xe ôtô Mitsubishi Attrage, biển số 60E-000.63 trị giá

26.000.000đồng; xe ôtô Mitsubishi Xpander, biển số 60K-076.86 trị giá

568.000.000đồng; xe ôtô Toyota Innova, biển số 60A-534.60 trị giá

138.000.000đồng; xe ôtô Mitsubishi Attrage, biển số 60K-051.36 trị giá

365.000.000đồng; xe ôtô Mazda 3, biển số 60K-155.56 trị giá 372.000.000đồng; xe

ôtô Ford Ranger, biển số 60C-568.74 trị giá 495.000.000đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 11668/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Giám

định viên Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Chữ ký và chữ viết mang tên Vương

Trung T trên các tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A8) so

với chữ ký và chữ viết trên tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M4)

do cùng một người viết ra.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Các bị hại N, Nguyễn Hữu T2, Huỳnh Văn Trung H1, Vũ Xuân T5, Trần

Văn L1, Trương Bảo H2, Nguyễn Công T6 đã nhận lại xe ôtô cho T thuê và không

yêu cầu bồi thường.

Bị hại Phạm Đức C yêu cầu bồi thường số tiền 135.000.000đồng.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm: chị Nguyễn Thị M

yêu cầu bồi thường 325.000.000đồng, chị Đinh Thị Ý N1 yêu cầu bồi thường

130.000.000đồng, anh Vĩnh T3 yêu cầu bồi thường 170.000.000đồng, anh Trần

Quốc V yêu cầu bồi thường 230.000.000đồng, anh Võ Văn Q Phục yêu cầu bồi

thường 50.000.000đồng, anh Hồ Ngọc D1 yêu cầu bồi thường 270.000.000đồng.

Buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS-P2 ngày 10/4/2024 và Quyết định giữ

nguyên quan điểm số 758/VKS – P2 ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân

tỉnh Đồng Nai, có nội dung: Truy tố bị cáo Vương Trung T về tội “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174;

khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 132/2024/HSST ngày 18/7/2024 của Tòa án

nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa

đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vương Trung T 15 (mười lăm) năm tù về

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 13 (mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp

hành chung là 28 (hai mươi tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, trách

nhiệm bồi thường dân sự và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Vương Trung T làm đơn kháng cáo, nêu lý do:

Mức án sơ thẩm quá nặng, xin được giảm nhẹ mức án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo xin được xem xét giảm nhẹ mức án vì hoàn cảnh gia đình khó khăn,

cha mẹ già yếu con còn nhỏ, vợ thì bỏ đi. Hiện nay thì bị cáo rất ăn năn, hối hận

nên xin được chiếu cố giảm án.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, trong số các xe mà bị cáo đi cầm cố,

bị quy kết với hành vi chiếm đoạt, trong đó có một số xe bị cáo có nhờ người khác

đi cầm. Quá trình đi cầm thì những người này lại không đưa đủ số tiền đã cầm

được cho bị cáo. Do đó có dấu hiệu đồng phạm về tội phạm cũng như là có dấu

hiệu về việc bị cáo không chiếm đoạt toàn bộ số tiền nêu trên. Luật sư đề nghị là

phải xem xét đối với các tội phạm nêu trên theo luật định, vì cơ quan điều tra đã

không làm rõ đối với hoàn cảnh gia đình khó khăn của bị cáo đề nghị Hội đồng xét

xử xem xét để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu quan điểm cho rằng: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Cùng lúc bị cáo

thực hiện 2 hành vi là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo

chiếm đoạt tài sản. Trong một khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã thực hiện chiếm

đoạt nhiều tài sản có giá trị lớn. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 4 về 2 tội là

có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra

được những tình tiết nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với đề nghị của luật sư thì Viện kiểm sát cho rằng, trong quá trình giải

quyết ở cấp sơ thẩm, cơ quan điều tra cũng như là Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tách

riêng đối với hành vi phạm tội của những đối tượng khác có liên quan để từ đó xem

xét, khi có đầy đủ các căn cứ của tội phạm thì sẽ tiếp tục giải quyết theo luật định.

Riêng đối với số tiền thì bị cáo đã nhận tự nguyện khắc phục bồi thường, phía bị

hại cũng đồng ý. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại

phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu

quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Vương Trung T làm

trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

[2.1] Ngày 1/7/2022 và ngày 9/8/2022, bị cáo Vương Trung T có thỏa thuận

ký hợp đồng với anh Nguyễn Hữu T2 với anh Nguyễn K và anh Phạm Đức C, để

thuê tổng cộng là 5 chiếc xe ô tô.

Tổng trị giá của 5 chiếc xe là 1.352.000.000đồng, quá trình hoạt động dịch

vụ ô tô, bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt đối với các tài sản nêu trên bằng cách

mang đi cầm cố.

Từ tháng 8/2022 đến tháng 11/2022, bị cáo đã thực hiện việc cầm cố đối với

5 chiếc xe nêu trên với tổng số tiền là 825.000.000đồng, số tiền này bị cáo dùng để

trả nợ và tiêu xài hết.

Ngoài ra, từ tháng 1/2023 đến tháng 2/2023, cũng do cần tiền trả nợ và tiêu

xài cá nhân nên bị cáo Vương Trung T cũng tiếp tục thuê 5 chiếc xe ô tô. 5 chiếc xe

này có tổng trị giá là 2.0590.000.000đồng. Bị cáo đã mang các xe này đi cầm cố

với tổng số tiền là 500.000.000đồng để tiêu xài và trả nợ hết.

Trong thời gian ngắn nêu trên, bị cáo đã thuê tổng cộng 10 xe thực hiện

chiếm đoạt đối với số tiền với giá trị rất lớn. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mức án 15 năm tù theo khoản 4 Điều 174 và tội

“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” mức án 13 năm tù theo khoản 4 Điều 175

Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, bị cáo đã đồng ý về tội danh cũng

như khung hình phạt. Bị cáo cũng đồng ý với số tiền bồi thường và phía bị hại cũng

đồng ý với việc bị cáo bồi thường số tiền nêu trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc

bị cáo phải bồi thường toàn bộ số tiền nêu trên cho người bị hại là có cơ sở.

[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo là nguy

hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh xã

hội, số tiền chiếm đoạt có giá trị lớn đến nay chưa khắc phục được là phù hợp.

Ngoài ra, trước đó bị cáo từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản. Do đó, mức

án nêu trên đối với với bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử là đã có xem xét

đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như bị cáo phạm tội từ 2 lần trở lên thuộc

điểm r, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ khác như thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án tiền sự, bị cáo tự nguyện bồi thường

toàn bộ số tiền theo yêu cầu của phía bị hại là có căn cứ.

Đối với đề nghị luật sư, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tách ra để cơ quan điều

tra thực hiện theo luật định.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng cũng không đưa ra

được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của

mình, do đó không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vương Trung T phải chịu theo luật

định.

[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Vương Trung T. Giữ nguyên

bản án sơ thẩm.

1/ Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa

đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vương Trung T 15 (mười lăm) năm tù về

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 13 (mười ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp

hành chung là 28 (hai mươi tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.

2/ Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không

bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

3/ Về án phí: bị cáo Vương Trung T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

án phí hình sự phúc thẩm.

4/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Trại TG Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 986/2024/HS-PT ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 986/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger