Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 986/2023/HC-PT

Ngày 17-11-2023

V/v: Khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Duyên.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng-Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 498/2023/TLPT-HC ngày 25/7/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2023/HC-ST của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2457/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1968 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp:

  1. Ông Phan Đăng H (có mặt).
  2. Ông Lê Nhật A (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số C, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 01/12/2022)

Người bị kiện:

  1. Ủy Ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ: Số B đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Trung T; Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N.

  1. Chủ tịch Ủy Ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:

  1. Ông Lê Nguyễn Kim T1, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường N, phường C, Thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

  1. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Số B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Ngọc N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Ngọc N và người đại diện hợp pháp trình bày:

Bà N khởi kiện yêu cầu hủy Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 21/10/2022 của Chủ tịch UBND quận N về việc phúc đáp đơn; Hủy Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022 của Chủ tịch UBND quận N về việc cưỡng chế buộc tháo dỡ và buộc UBND quận N cho mua một suất tái định cư theo quy định. Lý do khởi kiện như sau:

Thứ nhất, đối với căn nhà số A, đường N, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ thì sau khi ly hôn với ông Đào Thanh L theo Quyết định số 54/2007/HNGĐ ngày 14/6/2007 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, bà N đã để lại cho ông L và hai người con sinh sống. Việc giao lại căn nhà này cho ông L theo giấy thỏa thuận ngày 09/4/2009 nhưng không có công chứng, chứng thực. Để thực hiện việc chuyển giao tài sản đúng quy định pháp luật thì đến ngày 24/10/2016, bà N mới làm văn bản phân chia tài sản chung để giao toàn bộ căn nhà trên cho ông L. Do đó, thực tế kể từ ngày 09/4/2009 thì bà N đã không còn ở tại căn nhà này. Nên UBND quận N cho rằng việc giao căn nhà trên cho ông L sau thời điểm cấp có thẩm quyền phê duyệt chính sách tái định cư (năm 2015) cho bà N để không xem xét tái định cư cho bà N là chưa chính xác, chưa thấu tình đạt lý. Mặt khác, từ thời điểm phê duyệt chính sách tái định cư năm 2015 đến năm 2022 thì Chủ tịch UBND quận N mới tiến hành cưỡng chế thu hồi đất đối với phần tài sản trên đã chuyển giao cho ông L là hơn 06 năm theo văn bản thỏa thuận nên theo quy định pháp luật thì bà N không còn quyền đối với căn nhà trên.

Thứ hai, đối với căn nhà và đất ở tại số A N, phường A (nay là phường T), quận N mà bà N được quyền sử dụng và sở hữu theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 55/2021/QÐST-DS ngày 19/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thì bà N được hưởng phần đất của mẹ bà để lại là 26,4m². Hiện tại, bà đang xây dựng căn nhà tạm trên đất để ở. Tuy nhiên, phần diện tích đất 26,4m² này theo Công văn số 1780/PQLĐT ngày 05/9/2022 của Phòng Quản lý đô thị quận N trả lời là có 16,71m² nằm trong khu chức năng thủy lợi theo Quyết định số 712/QĐ-UBND ngày 16/02/2022 do UBND thành phố C phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của quận N. Phần diện tích đất còn lại 9,69m² cũng nằm trong quy hoạch nên bà không được UBND quận N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đối với phần đất trên. Do đó, theo quy định pháp luật về đất đai thì bà N chưa có quyền sử dụng và quyền sở hữu đối với căn nhà và đất tại vị trí này.

Thứ ba, phần đất bà N được hưởng thừa kế theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 55/2021/QÐST-DS ngày 19/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều cũng không đủ điều kiện xin cấp giấy phép xây dựng. Phần nhà tạm do bà N xây dựng để ở đã bị lập biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính nên chỗ ở này là không hợp pháp. Do đó, hiện tại bà không còn nơi ở nào khác, việc UBND quận N không xem xét cho bà được mua một suất tái định cư là không đúng.

Thứ tư, bản thân bà N là giáo viên, sống neo đơn không người chăm sóc nên cần có một nơi ở ổn định, đúng quy định pháp luật cũng hoàn toàn phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Người bị kiện, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N trình bày:

Căn cứ Điều 35 Quyết định số 12/2010/QĐ-UBND ngày 04/02/2010 của UBND thành phố C quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà thuộc đối tượng không được bồi thường đất, nếu không còn nơi ở nào khác thì được xem xét, giải quyết cho mua 01 nền với diện tích tối thiểu theo tiêu chuẩn giao đất ở mới (60m²) hoặc thuê nhà ở”. Trường hợp của bà Nguyễn Thị Ngọc N bị ảnh hưởng nhà ở và nhà trọ xây dựng trên đất của cha là ông Nguyễn Văn H1, còn chỗ ở khác trên địa bàn phường A (nay là phường T) nên không đủ điều kiện xét tái định cư. Do đó, UBND quận N ban hành Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 2/10/2022 về việc phúc đáp đơn của bà Nguyễn Thị Ngọc N là không đủ điều kiện xét bán nền tái định cư là đúng quy định pháp luật.

Căn cứ trình tự, thủ tục cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 0/6/2014 của Bộ trưởng Bộ T2 và Điều 71 của Luật Đất đai năm 2013 thì Chủ tịch UBND quận N ban hành Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022 về việc cưỡng chế tháo dỡ nhà của bà Nguyễn Thị Ngọc N để thu hồi đất thực hiện dự án Kè sông C là đúng quy định pháp luật.

Từ những cơ sở nêu trên, UBND và Chủ tịch UBND quận N đề nghị bác toàn bộ nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc N.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2023/HC-ST của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ,

Căn cứ: Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 1, Điều 143, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 67, Điều 71 Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; khoản 2 Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ T2; Khoản 3 Điều 21 Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố C; Khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử :

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc N về việc yêu cầu hủy Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 21/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N về việc phúc đáp đơn đề nghị xét mua một suất tái định cư theo quy định và yêu cầu xin mua một nền tái định cư.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận N xem xét bán cho bà N 01 nền tái định cư với diện tích tối thiểu để tạo dựng nơi ở mới ổn định trong khi chờ thực hiện dự án mới.

  1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N về việc cưỡng chế buộc tháo dỡ do bà Nguyễn Thị Ngọc N rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/9/2023, người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Ngọc N kháng cáo đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo và trình bày:

Bà N và ông L có quan hệ vợ chồng, có tài sản chung là căn nhà A, N, phường A, quận N. Năm 2007, bà N và ông L đã ly hôn theo Quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhưng không giải quyết tài sản chung. Năm 2009, bà N và ông L đã thỏa thuận (không được cơ quan có thẩm quyền xác nhận), nội dung: Ông L được toàn quyền sử dụng căn nhà này. Về pháp lý thì căn nhà trên vẫn là tài sản chung nhưng thực tế thì bà N đã giao cho ông L căn nhà trên và không còn ở tại căn nhà này nên năm 2015, khi UBND quận N thu hồi đất thì bà N không còn chỗ ở.

Việc năm 2016, bà N và ông L mới thỏa thuận (được công chứng xác nhận) là ông L có quyền đối với căn nhà 112/94D, Nguyễn Thị Minh K và ông L đã được cấp giấy chủ quyền đối với căn nhà này chỉ là hợp thức hóa thỏa thuận năm 2009 giữa các đương sự.

Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì việc UBND quận N không cho bà N mua suất tái định cư là không đúng. Ngoài ra, tuy bà N có được thừa kế tài sản nhưng căn nhà đang ở thuộc quy hoạch của nhà nước, hiện trạng xuống cấp không đủ điều kiện sinh sống bình thường.

Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

Năm 2015, khi UBND quận N thu hồi đất và thực hiện các quy định về bồi thường, tái định cư thì bà N vẫn còn quyền đối với căn nhà A, Nguyễn Thị Minh K nên không thuộc trường hợp không có chỗ ở theo quy định. Năm 2016, bà N với ông L mới thỏa thuận giao căn nhà cho ông L là sau khi UBND quận N thực hiện việc bồi thường, tái định cư. Vì vậy, UBND quận N không đồng ý yêu cầu mua suất tái định cư của bà N là đúng.

Ngoài ra, hiện nay bà N được thừa kế tài sản, đã xây căn nhà 3 tầng trên đất và đang ở tại căn nhà này. Nhà đất trên không thuộc quy hoạch như đại diện người khởi kiện trình bày.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Tại thời điểm năm 2015 thì căn nhà A, Nguyễn Thị Minh K vẫn là tài sản chung của bà N và ông L. Năm 2016, bà N và ông L mới thỏa thuận được công chứng xác nhận, theo đó ông L có quyền đối với căn nhà này. Vì vậy, khi UBND quận N thực hiện việc bồi thường, tái định cư thì bà N không thuộc trường hợp được mua nền đất tái định cư theo quy định. Hiện tại, bà N đang có chỗ ở là tài sản được thừa kế.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ. Bà N kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Bà Nguyễn Thị Ngọc N kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày21/10/2022 UBND quận N là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính là đúng quy định; Đồng thời khi giải quyết vụ án đã xem xét các quyết định hành chính có liên quan đến yêu cầu khởi kiện là đúng quy định tại Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.
  3. Quá trình giải quyết vụ án, bà N đã rút yêu cầu hủy Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022 của Chủ tịch UBND quận N, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu này của bà N là đúng quy định tại điểm b khoản 1, Điều 143 Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung:

  1. Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 21/10/2022 UBND quận N ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 66, Khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.
  2. Về nội dung:
    1. Ông Nguyễn Văn H1 (là cha bà Nguyễn Thị Ngọc N) có quyền sử dụng diện tích 331,0m² tại số A, khu V, đường N, phường A, quận N. Bà N và ông Đào Thanh L là vợ chồng có xây dựng căn nhà trên đất của ông H1, tại số A, khu V, đường N, phường A (nay là phường T), quận N, thành phố Cần Thơ.
    2. Cùng ngày 01/10/2015, UBND quận N ban hành Quyết định số 6234/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H1 và Quyết định số 6250/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 2-50 hộ), theo đó bà N được bồi thường, hỗ trợ số tiền là 143.431.403 đồng.
    3. Tại Quyết định thuận tình ly hôn số 54/2007/HNGĐ ngày 14/6/2007 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã công nhận thuận tình ly hôn giữa bà N và ông L nhưng không có giải quyết về vấn đề tài sản chung.
    4. Quá trình tố tụng, bà N cung cấp bản thỏa thuận ngày 09/4/2009 có nội dung: Bà N giao cho ông L được quyền sử dụng căn nhà số A, khu V, đường N, phường A. Tuy nhiên, việc thỏa thuận trên không được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.
  3. Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 về Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định:

    ***

    2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư”.

Điều 21 Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của UBND thành phố C về tái định cư đối với các trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở quy định:

***

“3. Hộ gia đình, cá nhân ở nhờ, ở đậu trên đất người khác, mà đất đủ điều kiện bồi thường, nếu có hộ khẩu thường trú tại vị trí đang ở nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì được xét cho mua 01 suất đất tái định cư tối thiểu (60m²)”.

  1. Đối chiếu quy định trên thấy rằng: Khi UBND quận N ban hành Quyết định 6250/QĐ-UBND ngày 01/10/2015 thì bà N không đủ điều kiện để được xem xét mua 01 suất đất tái định cư theo quy định pháp luật.
  2. Việc bà N cho rằng đã không còn ở tại căn nhà trên trước năm 2015 và đến ngày 24/10/2016, bà N và ông L lập Văn bản thỏa thuận có nội dung giao quyền sở hữu và sử dụng căn nhà cho ông L, được Văn phòng C, sau đó ông L được cấp Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp giấy CNQSDĐ ngày 18/01/2017 không phải là căn cứ để được xét cho mua suất đất tái định cư.
  3. Mặc dù, bà N được hưởng thừa kế theo di chúc của bà Nguyễn Thị Ngọc D là nhà đất có diện tích 26,4m² tại số A, khu V, đường N, phường A (nay là phường T) theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự số 55/2021/QÐST-DS ngày 19/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. Tuy nhiên, căn nhà này nằm trên đất được quy hoạch trong dự án khác, không được phép sửa chữa do đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên bản án sơ thẩm nhận định hiện nay bà N không có nơi ở ổn định nên chỉ kiến nghị UBND quận N xem xét bán cho bà N 01 nền tái định cư với diện tích tối thiểu để tạo dựng nơi ở mới ổn định trong khi chờ thực hiện dự án mới là phù hợp.
  4. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ. Bà N kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh.
  5. Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, bà N yêu cầu Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022; hủy Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 21/10/2022 và buộc UBND quận N cho mua một suất tái định cư theo quy định. Tại phần Quyết định của bản án sơ thẩm chỉ tuyên đình chỉ vụ án đối với yêu cầu Quyết định số 6185/QĐ-UBND và bác yêu cầu hủy Công văn số 4782/UBND-BTCD là thuộc trường hợp chưa giải quyết hết yêu cầu của người khởi kiện. Tuy nhiên, do Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà N nên việc hủy bản án vì lý do không tuyên bác yêu cầu buộc UBND quận N cho mua một suất tái định cư theo quy định là không cần thiết, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, chỉ cần tuyên bổ sung bác yêu cầu buộc UBND quận N cho mua một suất tái định cư cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về sai sót này.

Vì vậy Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm. Bà N phải chịu án phí phúc thẩm. Các phần khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241; Điểm b khoản 1, Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 79 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định số 15/2014/QĐ-UBND ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân dân thành phố C; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc N.
  2. Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 12/2023/HC-ST của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
  3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Quyết định số 6185/QĐ-UBND ngày 09/11/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N về việc cưỡng chế tháo dỡ nhà để thu hồi đất.
  4. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc N về việc:
    1. Yêu cầu hủy Công văn số 4782/UBND-BTCD ngày 21/10/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N về việc phúc đáp đơn đề nghị xét mua một suất tái định cư theo quy định và yêu cầu xin mua một nền tái định cư.
    2. Yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân quận N cho mua một suất tái định cư theo quy định.
  5. Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận N xem xét bán cho bà N 01 nền tái định cư với diện tích tối thiểu để tạo dựng nơi ở mới ổn định trong khi chờ thực hiện dự án mới.
  6. Về án phí:
    1. Án phí sơ thẩm:

      Bà Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000500 ngày 08/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà N đã nộp đủ.

      Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.

    2. Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001848 ngày 12/6/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà N đã nộp đủ.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - Cục THADS thành phố Cần Thơ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (3), HS (2) (BDA)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 986/2023/HC-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 986/2023/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger