Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 985/2024/DS – ST

Ngày: 29-10-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Bà Võ Kim Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 457/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1484/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1546/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V; Trụ sở: 89 L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thứ L; Địa chỉ: Tầng A số B Q, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 15642/2024/UNC (UQ-VPB) – (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Thái Bình N, sinh năm 1988; Địa chỉ: G H, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thứ L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/8/2021 ông Lê Thái Bình N có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức cấp thẻ tín dụng là 162.000.000 đồng, với mục đích phục vụ nhu cầu đời sống, lãi suất là 33.48%/năm.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch hết số tiền cấp trên thẻ tín dụng. Sau đó chỉ thanh toán được 4.211.155 đồng tiền gốc và lãi nhưng tới ngày 14/4/2023 không thanh toán nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ gốc sang thành nợ quá hạn.

Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ, thông báo với ông N về việc thanh toán khoản nợ còn thiếu nhưng không nhận được sự hợp tác từ ông N. Tính đến ngày 29/10/2024, ông Lê Thái Bình N còn nợ tổng số tiền là 274.085.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 157.788.845 đồng; nợ lãi là 116.296.695 đồng.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/10/2024 là 274.085.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 157.788.845 đồng; nợ lãi là 116.296.695 đồng. Yêu cầu thanh toán 01 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Lãi suất tiếp tục phát sinh kể từ ngày 30/10/2024 đến khi ông N trả hết khoản nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.

- Bị đơn – ông Lê Thái Bình N trình bày: Ông N xác nhận ngày 19/8/2021 có ký kết hợp đồng mở thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP V với hạn mức cấp thẻ là 162.000.000 đồng. Thời gian đầu ông đều thanh toán đầy đủ và đúng kỳ hạn cho Ngân hàng. Sau đó năm 2022 tình hình kinh tế khó khăn nhưng ông vẫn cố gắng đóng tiền cho Ngân hàng. Tới năm 2023 công việc làm ăn của ông thất bại, ông thất nghiệp không có nguồn thu, ngoài ra hoàn cảnh gia đình có mẹ già mất khả năng lao động nên ông mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng. Nay đối với số còn thiếu thì ông sẽ cố gắng xoay xở xin Ngân hàng thời hạn 03 tháng để thanh toán hết nợ gốc và một phần nợ lãi. Số tiền lãi còn lại xin Ngân hàng giảm tiền lãi cho ông.

Toà án đã tiến hành hòa giải để hai bên thương lượng giải quyết nhưng không được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, yêu cầu ông N thanh toán số nợ còn thiếu của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng Đ mà hai bên đã ký kết. Hội đồng xét xử nhận định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn ông Lê Thái Bình N cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự:

- Đại diện nguyên đơn – ông Trần Thứ L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông L.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

Xét, Ngân hàng yêu cầu ông N thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/10/2024 là 274.085.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 157.788.845 đồng; nợ lãi là 116.296.695 đồng:

Hội đồng xét xử xét thấy, Căn cứ vào Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 19/8/2021 của ông N và phần phê duyệt của Ngân hàng thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 388, Điều 389 và Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có giá trị để hai bên thực hiện.

Xét, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông N đã thực hiện giao dịch toàn bộ số tiền được cấp trong thẻ tín dụng nhưng chỉ thanh toán được tổng số tiền 4.211.155 đồng tiền gốc và lãi nhưng tới ngày 14/4/2023 ngưng không trả cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay ông N yêu cầu được thanh toán trong thời hạn 03 (ba) tháng nhưng không đưa ra mức thanh toán cụ thể, ngoài ra ông N xin được thanh toán nợ gốc và một phần nợ lãi. Tuy nhiên ý kiến của ông N đưa ra là kéo dài thời hạn thanh toán và cũng không được Ngân hàng đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Ngược lại Ngân hàng yêu cầu ông N thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/10/2024 với tổng số tiền là 274.085.540 đồng, trong đó: nợ gốc là 157.788.845 đồng; nợ lãi là 116.296.695 đồng. Nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 30/10/2024 cho đến khi ông N thanh toán xong số tiền còn nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử và phụ lục đính kèm của Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 14, Điều 21 và Điều 22 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 về việc quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.

- Về thời hạn và phương thức thanh toán: Ngân hàng yêu cầu ông N thanh toán số tiền còn nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, do đó việc Ngân hàng yêu cầu ông N thanh toán số tiền trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 274.085.540 x 5% = 13.704.277 đồng.

H lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 5.054.192 đồng cho của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Nieàu 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3; khoản 1 Điều 147; Điều 180; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ; Điều 7; khoản 1 Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

- Buộc ông Lê Thái Bình N trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/10/2024 của giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 19/8/2021 là 274.085.540 (hai trăm bảy mươi bốn triệu không trăm tám mươi lăm ngàn năm trăm bốn mươi) đồng, trong đó: nợ gốc là 157.788.845 (một trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn tám trăm bốn mươi lăm) đồng; nợ lãi là 116.296.695 (một trăm mười sáu triệu hai trăm chín mươi sáu ngàn sáu trăm chín mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày 30/10/2024 lãi suất tiếp tục phát sinh trên số nợ còn thiếu theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 19/8/2021 và phụ lục đính kèm mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Lê Thái Bình N thanh toán xong khoản nợ.

Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Thái Bình N phải chịu án phí là 13.704.277 (mười ba triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn hai trăm bảy mươi bảy) đồng.

H lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 5.054.192 (năm triệu không trăm năm mươi bốn ngàn một trăm chín mươi hai) đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008293 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và ông Lê Thái Bình N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ ./.(Vinh)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 985/2024/DS – ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 985/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger