|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 983/2024/DS-PT
Ngày: 03/12/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
***
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
2. Bà Huỳnh Thị Như Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa- Kiểm sát viên.
Trong ngày 03/12/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 777/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 319/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7089/2024/QĐXX-PT ngày 21/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5679/QĐ-PT ngày 12/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T4
Địa chỉ trụ sở: Số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Địa chỉ trụ sở: Số B đường H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến Đ – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 hoặc ông Lê Đình Q hoặc ông Trần Hoàng T2, hoặc ông Nguyễn Đức T3, hoặc ông Dương Việt H (ông Nguyễn Đức T3 có mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố H. (Theo văn bản ủy quyền số 133/2024/GUQ-CB ngày 20/3/2024).
Bị đơn: Bà Lê Thị Thảo N sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Tạm trú: Số 17.08 Block D, chung cư F, khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía nguyên đơn thể hiện như sau:
Ngày 29/11/2021, bà Lê Thị Thảo N có vay Ngân hàng T4 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) số tiền 3.300.000.000 đồng (bằng chữ: Ba tỷ ba trăm triệu đồng), theo Hợp đồng tín dụng số 98/2021/24101/08.1.HĐTD/020 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm Giấy nhận nợ số: 98/2021/24101/11.GÐNGN-1/020.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 2886, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CV 456739, số vào sổ cấp GCN: CS 05353 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 10/4/2020, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 152/2020/24101/09.HĐTC/020 ngày 30/10/2020 và Phụ lục sữa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 152/2020/24101/09.HĐTC/020/PL1 ngày 29/11/2021.
Ngày 18/12/2023, Ngân hàng T4 và Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam đã ký Hợp đồng mua, bán nợ số 1179/2023/MBN.VAMC-CB và Hợp đồng ủy quyền số 1180/2023/UQ.VAMC-CB. Theo đó Ngân hàng T4 bán toàn bộ khoản nợ của khách hàng Lê Thị Thảo N cùng với các quyền và lợi ích gắn liền với khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm và biện pháp bảo đảm khác cũng như quyền được khách hàng vay thanh toán nợ gốc tiền lãi, tiền phạt vi phạm, phí chưa thanh toán phát sinh từ khoản nợ của Hợp đồng tín dụng đã ký cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Trong thời hạn vay, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng khởi kiện. Tuy nhiên trong quá trình tố tụng tại Tòa án, ngày 27/6/2024 bị đơn đã thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tính đến ngày 14/8/2024, bị đơn không còn nợ gốc, lãi trong hạn, lãi chậm trả gốc, lãi chậm trả lãi. Tuy nhiên, các khoản chi phí khác phát sinh từ Hợp đồng bà N chưa thanh toán.
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, Ngân hàng T4 có tạm nộp chi phí tố tụng là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng (theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 01 và 02/2024/TB-TA ngày 04/01/2024). Sau khi Tòa án thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản đảm bảo, Ngân hàng đã được nhận lại chi phí tố tụng còn dư là 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện về hợp đồng tín dụng, nhưng có yêu cầu bổ sung buộc bị đơn hoàn trả lại chi phí tố tụng 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng nêu trên.
Bị đơn bà Lê Thị Thảo N tại bản tự khai ngày 26/01/2024 trình bày: Thừa nhận về khoản vay theo Hợp đồng tín dụng đúng như lời khai của đại diện Ngân hàng, nhưng sau đó vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 319/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H đã tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn bà Lê Thị Thảo N.
- Về nội dung: Đình chỉ giải quyết vụ án.
Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 192, điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 15.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo- đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 15.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền vay và tiền lãi, bị đơn cư trú tại Quận G, nên Tòa án nhân dân Quận 7 thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp.
[2] Về hình thức đơn kháng cáo: Nhận thấy “Đơn kháng cáo” của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình trình phúc thẩm.
[3]. Về nội dung: Theo Bản án sơ thẩm, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự (Do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; về nội dung này, nguyên đơn không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, cho rằng bị đơn phải có trách nhiệm hoàn lại chi tố tụng 15.000.000 đồng mà nguyên đơn đã tạm nộp trong quá trình tố tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy theo quy định tại Khoản 4 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự, trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 217 của luật này, thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; như vậy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ để được chấp nhận.
[4] Do yêu cầu án kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo- Ngân hàng phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 4 Điều 157; Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- Ngân hàng T4 (kế thừa quyền và nghĩa vụ là Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam);
- Đình chỉ giải quyết vụ án.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Không ai phải chịu.
H1 lại cho Ngân hàng T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 51.663.800 (năm mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0025714 ngày 24/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng T4 (người kế thừa là Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam) phải chịu 15.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo B lại tu số 0019759 ngày 29/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố H, nguyên đơn đã nộp xong.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 319/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố H:
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 983/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 983/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
