Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 982/2024/DS-PT

Ngày: 21 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp chia di sản thừa kế;

Tranh chấp Quyền sử dụng đất và yêu

cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 397/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 05 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế; Tranh chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6957/2024/QĐPT ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1949. Cư trú tại: Số B, đường H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Bá L, sinh năm 1981. Cư trú tại: Số B, đường H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Huỳnh Ngô Tường B, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Thanh Q, sinh năm 1954. Cư trú tại: Số B, đường H, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thành phố Đ. Địa chỉ trụ sở: Số B T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Quang T – Chức vụ: Chủ tịch. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Trương Tường V– Chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài Nguyên và Môi trường. Vắng mặt.

- Bà Trần Thị M, sinh năm 1953. Cư trú tại: Số A, K, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1959. Cư trú tại: Số A T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966. Cư trú tại: Số E Hồ T, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Do có kháng cáo của bà Trần Thị S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 14/10/2022 và đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày 13/02/2023 của bà Trần Thị S, đại diện theo ủy quyền ông Trần Bá L trình bày thì: Nguồn gốc căn nhà và Quyền sử dụng đất tại số B đường H, Phường F, thành phố Đ, diện tích 40m² (diện tích đo đạc thực tế là 110,4m²) là của cụ Trương Thị T2 (1920-2002) là mẹ ruột của ông Trần Thanh Q và bà Trần Thị S, đã được Sở xây dựng cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất số 4702/NĐ/XD-Q27 ngày 22/5/1989 cho cụ Trương Thị T2, diện tích 40m².

Cụ Trương Thị T2 có các con ruột là ông Trần Thanh Q, bà Trần Thị M, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1, bà Trần Thị S, Trần Thị T3 (1952 -1977), đã chết, không có chồng con, ông Trần Thanh N (đã chết lúc còn nhỏ). Ngoài ra không còn con riêng, con nuôi nào khác.

Ngày 23/10/2001, cụ T2 lập di chúc có chứng thực tại Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) Phường F, thành phố Đ có nội dung như sau: “Ngày 06/02/2001 tôi có lập bản di chúc để lại căn nhà cho con trai là Trần Thanh Q diện tích 40m², nhưng nay vì điều kiện không có chỗ ở nên tôi lập bản di chúc này đề nghị U, thành phố Đ hủy bản di chúc ngày 19/02/2001. Nay tôi có nguyện vọng lấy lại một phần diện tích đất, tôi cắt chiều ngang 3m, chiều dọc 7m hết nhà, tổng diện tích là 21m² trước mặt nhà là sân chung. Diện tích còn lại tôi cho Trần Thanh Q sử dụng, bán, sang nhượng tùy ý. Phần 21m² tôi cắt ra phần trên thờ, phần dưới để tôi có chỗ ở, nghỉ ngơi tuổi già.. khi tôi qua đời để lại cho con gái Trần Thị S làm nhà thờ cúng...”

Như vậy, phần ông Q được hưởng theo di chúc là 19m², phần bà S được hưởng là 21m². Tuy nhiên bà S phát hiện ông Q đã sử dụng bản di chúc ngày 23/10/2001 để đi đăng ký kê khai Quyền sử dụng đất và đã được UBND thành

phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số AD431287 ngày 19/6/2006, thửa 318, tờ bản đồ số 22, diện tích 37,1m² cho ông Trần Thanh Q, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà S.

Đối với phần diện tích đất được tăng lên, trong đó có 25m² là do bà S khai phá, phần còn lại bà Trần Thị M khai phá 35,38m² phần đất phía sau nhà, bà M đã chuyển nhượng lại cho bà S năm 2012 và bà S đã giao tiền đầy đủ cho bà M.

Nay bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ Trương Thị T2 lập ngày 23/10/2001, theo đó ông Trần Thanh Q được hưởng 19m² và bà Trần Thị S được hưởng 21m² tại địa chỉ 2 đường H, Phường F, thành phố Đ, đã được Sở xây dựng tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất số 4702/NĐ/XD Q27 ngày 22/5/1989 cho bà Trương Thị T2.
  • Chia di sản thừa kế theo pháp luật diện tích đất 25m² của cụ Trương Thị T2 để lại thuộc thửa 303, tờ bản đồ số 22 tại 2 H, Phường F, thành phố Đ cho 5 người là: Trần Thanh Q, Trần Thị S, Trần Thị M, Trần Thị L1 và Trần Thị T1.
  • Công nhận diện tích đất 35,38m² thuộc thửa 303, tờ bản đồ số 22 tại 2 H, Phường F, thành phố Đ thuộc Quyền sở hữu của bà Trần Thị S.
  • Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 cho ông Trần Thanh Q.
  • Hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD431288 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 cho bà Trần Thị S.

Theo lời trình bày của bị đơn ông Trần Thanh Q thì: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S vì UBND thành phố Đ cấp GCNQSDĐ cho ông dựa trên sự thỏa thuận giữa các thành viên trong gia đình: Gồm giấy cam đoan về việc không tranh chấp thừa kế giữa các thành viên trong gia đình; Giấy thỏa thuận về việc thừa kế Quyền sử dụng đất; Tờ khai đăng ký mở thừa kế; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới kích thước bà Trần Thị S đã ký giáp ranh. UBND thành phố Đ đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông dựa trên di chúc của cụ Trương Thị T2 (mẹ tôi chết để lại cho tôi có các chị em trong gia đình thống nhất ký vào biên bản). Do đó, trước yêu cầu khởi kiện của bà S, ông Q không đồng ý.

Đối với đơn khởi kiện bổ sung của bà Trần Thị S ngày 13/02/2023, yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với diện tích đất 25m²; Đồng thời yêu cầu công nhận diện tích đất 35,38m² thuộc Quyền sở hữu của bà S; Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H00433 ngày 19/6/2006 cấp cho bà Trần Thị S thì ông Q không đồng ý bởi những lý do sau:

Ngày 25/8/1989 cụ Trương Thị T2 được Sở Xây dựng tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất số 4702/NĐ/XD-Q27; Địa chỉ 2 H, Phường F, thành phố Đ, cấu trúc nhà cấp 4, hạng 4, diện tích sử dụng 40m².

Ngày 27/4/1995 cụ Trương Thị T2 lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho tôi là Trần Thanh Q (di chúc được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Lâm Đồng).

Ngày 06/02/2001 cụ Trương Thị T2 lập di chúc lần 2 với nội dung: “Ông Trần Thanh Q được sở hữu phần nhà chính diện tích 53m²; Bà Trần Thị S + bà Trần Thị M được quyền sử dụng hai phòng phía sau giáp nhà chính mặt trước, mặt sau giáp suối H và sân trước mặt nhà chính được sử dụng làm đường đi chung. Nếu sau này tôi qua đời, phần nhà và đất đã giao trên, các con tôi toàn quyền sử dụng để ở, mua bán, sang nhượng. Di chúc có xác nhận của UBND phường U, thành phố Đ...”. Cùng ngày 06/02/2001 ông Q thanh toán cho mỗi em gái số tiền 10.000.000 đồng về phân chia di sản thừa kế theo biên bản họp gia tộc ngày 06/02/2001.

Ngày 23/10/2001 cụ T2 lập di chúc, nội dung thay đổi di chúc lập ngày 06/02/2001 “ Lấy lại một phần diện tích đất.. tôi cắt ra 3m chiều ngang, chiều dọc 7m hết nhà, tổng diện tích 21m², trước mặt nhà là sân chung. Diện tích còn lại cho Trần Thanh Q sử dụng, mua bán, tùy ý. Phần 21m² phần trên thờ, phần dưới tôi làm chỗ ở nghỉ ngơi tuổi già. Sau khi tôi qua đời tôi để lại cho con gái Trần Thị S làm nhà thờ chung, không được bán. Di chúc này có chứng thực của UBND phường U, thành phố Đ...”

Ngày 21/3/2002 U cấp trích lục thửa đất có diện tích 145,4m², chưa trừ lộ giới suối.

Ngày 05/4/2002 UBND thành phố Đ cấp Giấy phép xây dựng số 114/GPXD/UB chấp thuận cho bà T2 được cải tạo mới ngôi nhà diện tích 60,84m², số tầng 4, diện tích sàn 264m², cấp nhà 2, dạng kiến trúc nhà phố.

Ngày 15/11/2002 cụ T2 chết, bà S làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất.

Ngày 27/9/2005 bà Trần Thị S, bà Trần Thị M, ông Trần Thanh Q, bà Trần Thị T1, bà Trần Thị L1 thỏa thuận về việc thừa kế Quyền sử dụng đất với nội dung “ Ông Q được sử dụng diện tích 39,8m² trên đất có nhà.. bà Trần Thị S được thừa kế phần diện tích đất 68,81m² trên đất có nhà....theo di chúc mẹ tôi đã lập. Do đó, anh em chúng tôi thống nhất để cho bà S được đại diện đồng sở hữu cho 5 người”.

Năm 2006, ông Q được UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287 ngày 19/6/20006, thửa 318, tờ bản đồ số 22, diện tích 37,10m²; Còn bà S được UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 ngày 19/6/2006, tờ bản đồ số 22, thửa 303, diện tích 63,28m².

Riêng đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 ngày 19/6/2006, tờ bản đồ số 22, thửa 303, diện tích 63,28m² cho bà Trần Thị S thì ông Q không tranh chấp đối với diện tích đất này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân thành phố Đ:

Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AD 431288 do UBND thành phố Đ cấp cho bà Trần Thị S ngày 19/6/2006 tại thửa đất số 303, tờ bản đồ số 22, diện tích 63,28m², tọa lạc tại 2 H, Phường F, thành phố Đ như sau:

1. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp cho bà Trần Thị S ngày 19/6/2006, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H00433:

Ngày 22/5/1989, Sở X cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất số 4702NĐ/XD Q27 cho bà Trương Thị T2 với nội dung: “...Nhà cấu trúc loại cấp IV, hạng 4, còn 35%, nền ciment, vách xây, mái ngói, tổng diện tích 40m², sử dụng chính 30m²...”. Tại Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất nêu trên thể hiện nguồn gốc ngôi nhà: “...Nhà do bà Trương Thị T2 mua của bà Lâm Thị H, Giấy phép mua bán số 52/6D - UB ngày 31/7/1984. Đoạn mãi lập ngày 03/8/1984, trước bạ tại Đ ngày 23/8/1984. Đăng ký sang tên tại Sở Xây dựng ngày 28/8/1984... ".

Ngày 23/10/2001, bà Trương Thị T2 lập bản di chúc với nội dung: “Trong lúc tôi còn sáng suốt minh mẫn không bị áp lực và dụ dỗ lừa dối tôi, tôi tự nguyện lập bản di chúc với sự chứng kiến của ông Trương Văn D – Tổ trưởng tổ A, khu phố F với nội dung như sau: Tôi hiện là sở hữu chủ ngôi nhà số B H, phường F, thành phố Đ (Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà cửa số 4702/NĐ/XD Q27 cấp ngày 22/5/1989). Ngày 16/2/2001 tôi có lập bản di chúc để lại cho con trai tôi là Trần Thanh Q diện tích 40m². Nhưng vì điều kiện tôi không có chỗ ở nên tôi lập bản di chúc này đề nghị UBND phường 6 hủy bỏ bản di chúc trước đây mà UBND phường 6 xác nhận ngày 19/02/2001. Nay tôi có nguyện vọng lấy lại một phần diện tích cụ thể như sau: Trước phía Tây là lô đất trống, sau phía Đông là suối, tay phải phía Bắc giáp nhà ông C, tay trái phía Nam giáp nhà ông Q. Tôi cắt ra chiều ngang 3m, chiều dọc 7m hết nhà tổng diện tích 21m², trước mặt là sân chung. Diện tích còn lại tôi cho ông Trần Thanh Q sử dụng mua bán sang nhượng tùy ý, còn phần 21m² tôi cắt ra phần trên thờ, phần dưới làm chỗ ở nghỉ ngơi tuổi già. Khi tôi qua đời để lại cho con gái Trần Thị S làm nhà thờ chung không được bán...” Di chúc được U xác nhận.

Ngày 22/5/2005, bà Trần Thị S làm đơn đăng ký nhà ở và đất ở tại một phần thửa 303, tờ bản đồ số 22 diện tích 74,27m²; Nguồn gốc đất của mẹ. Ngày 22/02/2005 bà S làm đơn xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất.

Ngày 26/9/2005 ông Q, bà S, bà M, bà T1, bà L1 lập tờ khai xác nhận quan hệ thừa kế; Thỏa thuận ông Q được sử dụng 39,8m²; bà S được thừa kế phần diện tích 68,81m², trên đất có nhà đứng tên đại diện cho 5 người là bà L1, bà T1,

bà M, ông Q, bà S. Do đó, UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho bà S diện tích 63,28m², thửa 303 theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 ngày 19/6/2006 cho bà S trên cơ sở các loại giấy tờ trên, được thực hiện theo đúng thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cấp cho ông Q thì UBND thành phố Đ có ý kiến như sau:

Ngày 22/02/2005 ông Trần Thanh Q có đơn xin đăng ký nhà ở tại một phần thửa 303, nguồn gốc được hưởng thừa kế của cụ T2. Cơ quan chức năng đã lập biên bản xác định ranh giới, mốc kích thước. Ngày 10/3/2006, phòng T4 thiết lập sơ đồ hiện trạng một phần thửa 318, tờ bản đồ 22 tại H, phường F, thành phố Đ, diện tích xét cấp 37,10m². Thời điểm sử dụng đất năm 2001 theo di chúc UBND phường U xác nhận; Về nhà diện tích xây dựng 31,20m², diện tích sàn 134,10m², diện tích sử dụng 107,28m²; Nguồn gốc Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở số 4702/NĐ/XDQ27 cấp ngày 22/3/1989, xây dựng cải tạo tháng 4/2002 theo Giấy phép thiết kết, biên bản hoàn công đứng tên cụ Trương Thị T2 (đã chết).

UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287 cho ông Trần Thanh Q diện tích 37,10m², thửa 318, tờ bản đồ số 22 tại Phường F, thành phố Đ trên cơ sở tờ trình số 031(4) TT-TNMT ngày 31/5/2006 của phòng T4. Việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Q là đúng trình tự, thủ tục, đối tượng tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Do đó, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.

Bà Trần Thị M trình bày như sau: thống nhất với lời trình bày của bà S là căn nhà và đất tại số B H, Phường F, thành phố Đ là di sản của cụ T2 để lại; Thống nhất với bà S về di sản thừa kế và hàng thừa kế. Còn phần diện tích đất 25m² là do bà Trần Thị S tôn tạo khai phá thêm nên diện tích đất tăng lên 100m²; Phần diện tích đất 35,38m² khai phá thêm có công sức của bà M và bà S. Do không có nhu cầu sử dụng nên bà đã chuyển nhượng lại phần diện tích đất này cho bà S sử dụng và đã nhận đủ tiền và dọn đồ ra khỏi nhà. Việc mua bán giữa bà và bà S đã xong, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì.

Khi ông Q đi đăng ký kê khai cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 37,1m², phần còn lại 63,28m² ông Q đăng ký cho bà S, đại diện đứng tên cộng đồng cho 05 anh chị em, trong đó gộp cả phần diện tích lẽ ra bà S được hưởng là 25m² thuộc sở hữu của cụ T2 để lại và 35,38m² là diện tích đất của bà S chuyển nhượng của bà và khai phá là không đúng. Do đó, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà S, đề nghị Tòa án xem xét.

+ Bà Trần Thị L1 trình bày như sau: Bà thống nhất với lời trình bày của bà S về hàng thừa kế. Sau khi cụ T2 qua đời, các anh em trong nhà thống nhất chia theo di chúc của cụ T2 là ông Q được hưởng diện tích 39,8m², phần diện tích đất của ông Q ông được toàn quyền định đoạt, phần bà S được đứng tên cộng đồng đại diện cho 05 anh chị em diện tích 68,81m² tại địa chỉ 2 H, phường F, thành

phố Đ, không được bán, chỉ làm nơi thờ cúng. Năm 2001, khi cụ T2 để lại di chúc, chỉ chia diện tích đất của căn nhà, phần diện tích đất ngoài căn nhà chưa chia. Căn nhà ông Q và bà S xây dựng năm 2002, lúc đó cụ T2 vẫn còn sống. Bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

+ Bà Trần Thị T1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng từ chối nhận văn bản và không đến làm việc nên không có lời trình bày nào.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S về việc “Tranh chấp di sản thừa kế; Tranh chấp Quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Thanh Q.
  2. Đình chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 thửa đất số 303, tờ bản đồ số 22, diện tích 63,28m² do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 mang tên bà Trần Thị S.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án vàquyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/02/2024, nguyên đơn bà Trần Thị S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày và đề nghị như sau:

Đối với yêu cầu chia di sản của bà T2: Vì phần đất bà T2 để lại có 03 phần, bà S yêu cầu được chia phần đất thứ 02 là tài sản chung của cộng đồng. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ của bà S là do ông Q giả chữ ký thể hiện ở các Bút lục 153, 146-150, 275, 276, 300-302 và ông Q đều thừa nhận việc này. Nhưng Tòa cấp sơ thẩm không làm rõ và vẫn nhận định bà S có ý chí xin cấp đất với phần diện tích như đã trình bày là không có căn cứ. Việc bà S thừa kế được bà M và hàng xóm xung quanh xác nhận đã có trong hồ sơ. Đề nghị HĐXX xem xét đối với phần 35,38m² là do bà M khai phá và đã bán cho bà S vào năm 2012. Ông Q thực tế đã được cấp 01 GCNQSDĐ riêng rồi, nhưng vẫn đòi chia phần di sản không cho bà S và các đồng thừa kế khác là không phù hợp. Việc đình chỉ đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của Tòa cấp sơ thẩm đã vi phạm tố tụng, xác định thiếu nên chưa đưa đủ người vào tham gia tố tụng. Do có nhiều thiếu sót nên đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm, để xét xử lại.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định. Đơn kháng cáo của bà S nằm trong hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ. Căn cứ di chúc của cụ T2, căn cứ giấy thỏa thuận phân chia di sản, giấy cam đoan của các đồng thừa kế là hợp pháp. Bà S, bà M cho rằng chữ ký của các bà là giả nhưng theo giám định chữ ký là của 02 bà, nên việc cấp GCNQSDĐ của ông Q, bà S là đúng quy định pháp luật. Khi nhận được GCNQSDĐ bà S cũng không có ý kiến gì. Do đó, bản án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Trần Thị S làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa, bị đơn - ông Trần Thanh Q; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ủy ban nhân dân thành phố Đ có đại diện theo pháp luật là ông Đặng Quang T có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Trần Thị M, bà Trần Thị L1, bà Trần Thị T1 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Cụ ông Trần V1 (mất 1981) và cụ bà Trương Thị T2 (1928-2002), có 07 người con chung là: Bà Trần Thị S (1949), bà Trần Thị T3 (1952-1977) đã chết không có chồng con, bà Trần Thị M (1953), ông Trần Thanh Q (1954), ông Trần Thanh N (chết lúc còn nhỏ), bà Trần Thị L1 (1959), bà Trần Thị T1 (1966). Ngoài ra không có con riêng hay con nuôi nào khác. Bố mẹ của cụ T2, cụ V1 chết trước cụ T2 và cụ V1.

Năm 1983, cụ T2 sang nhượng của bà Lâm Thị H diện tích đất 40m² (diện tích đo đạc thực tế là 110,4m²) tại địa chỉ số B đường H, Phường F, thành phố Đ. Ngày 22/5/1989, Sở Xây dựng tỉnh L cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà đất số 4702NĐ/XDQ27 mang tên cụ Trương Thị T2 đối với diện tích 40m².

Ngày 27/4/1995, cụ Trương Thị T2 lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất cho con trai là Trần Thanh Q; Di chúc được công chứng tại Phòng C1 tỉnh Lâm Đồng. Ngày 06/02/2001, cụ Trương Thị T2 lập tiếp di chúc lần 2 với nội dung: “Ông Trần Thanh Q được sở hữu phần nhà chính diện tích 53m²; Bà Trần Thị S + bà Trần Thị M được quyền sử dụng hai phòng phía sau giáp nhà chính mặt trước, mặt sau giáp suối H và sân trước mặt nhà chính được sử dụng làm đường đi chung. Nếu sau này tôi qua đời, phần nhà và đất đã giao trên, các con tôi toàn quyền sử dụng để ở, mua bán, sang nhượng. Di chúc có xác nhận của UBND phường U, thành phố Đ...”. Cùng ngày 06/02/2001, ông Q thanh toán cho mỗi em gái số tiền 10.000.000 đồng về phân chia di sản thừa kế theo biên bản họp gia tộc ngày 06/02/2001. Ngày 23/10/2001, cụ T2 lập di chúc lần 3, thay đổi di chúc lập ngày 06/02/2001 với nội dung: “Lấy lại một phần diện tích đất.. tôi cắt ra 3m chiều ngang, chiều dọc 7m hết nhà, tổng diện tích 21m², trước mặt nhà là sân chung. Diện tích còn lại cho Trần Thanh Q sử dụng, mua bán, tùy ý. Phần 21m² phần trên thờ, phần dưới tôi làm chỗ ở nghỉ ngơi tuổi già. Sau khi tôi qua đời tôi để lại cho con gái Trần Thị S làm nhà thờ chung, không được bán...”. Di chúc này có chứng thực của UBND phường U, thành phố Đ. Đây là di chúc cuối cùng của cụ T2 lập trước khi mất ngày 15/11/2022, có hiệu lực pháp luật.

Sau khi cụ T2 chết, các con của cụ T2 lập tờ khai xác nhận quan hệ thừa kế, được U xác nhận ngày 28/9/2005. Ngày 27/9/2005, các ông bà: Trần Thanh Q, Trần Thị S, Trần Thị M, Trần Thị T1, Trần Thị L1 lập giấy thỏa thuận về việc thừa kế quyền sử dụng đất với nội dung “Vào năm 2002 trước khi mẹ tôi qua đời đã lập di chúc cho con thừa kế quyền sử dụng đất như sau: Ông Trần Thanh Q được thừa kế phần diện tích đất 39,8m², trên đất có căn nhà; bà Trần Thị S được thừa kế phần diện tích đất diện tích 68,81m², trên đất có căn nhà. Nay mẹ chúng tôi đã mất, anh chị em chúng tôi thống nhất thỏa thuận về việc thừa kế phần nhà đất mà trước đây mẹ chúng tôi đã lập di chúc. Phần đất ông Q được thừa kế ông được toàn quyền định đoạt và sử dụng sau này. Phần nhà đất mà bà S được hưởng thừa kế dùng làm nơi thờ tự, không được mua bán sang nhượng. Do vậy, anh em chúng tôi thống nhất để cho bà S đứng tên đại diện đồng sở hữu/5 người...”, có đầy đủ chữ ký của các anh chị em trong nhà. Văn bản này có xác nhận của U, thành phố Đ, được các bên ký kết, xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp, phù hợp với ý chí của cụ T2 tại Di chúc ngày 23/10/2001 của cụ T2 nên có hiệu lực pháp luật. Luật sư của nguyên đơn cho rằng văn bản thỏa thuận trên không hợp pháp là không có căn cứ.

Quá trình giải quyết vụ án, Bà S, bà M cho rằng chữ ký trong giấy thỏa thuận lập ngày 27/9/2005 và giấy cam đoan lập ngày 06/02/2001 không phải chữ ký của bà S, bà M. Sau đó bà S, bà M yêu cầu giám định, cả hai lần giám định đều kết luận là chữ ký của bà S, bà M trong 2 văn bản nêu trên. Từ những phân

tích trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Di chúc lập ngày 23/10/2001, Văn bản thỏa thuận chia di sản thừa kế ngày 27/9/2005 trên diện tích đất 100.38m² hợp pháp, có giá trị pháp lý là có căn cứ.

Trên cơ sở các văn bản này, bà S, ông Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 cho bà Trần Thị S; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 mang tên ông Trần Thanh Q. Khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, khi ký biên bản giáp ranh, hoàn tất thủ tục cấp giấy, bà S nhờ ông Q làm thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, đến khi nhận Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, qua nhiều năm bà S cũng không có ý kiến. Cả bà S và ông Q đều đã sinh sống ổn định, sửa chữa nhà ở từ năm 2002 cho đến nay. Việc phân chia di sản của cụ T2 theo di chúc đã hoàn thành phù hợp với ý chí của cụ T2 tại di chúc và phù hợp với thỏa thuận của các anh chị em trong gia đình.

Về yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 mang tên ông Trần Thanh Q. Như đã phân tích trên, việc UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431287, ngày 19/6/2006 mang tên ông Trần Thanh Q là dựa trên các văn bản thỏa đúng pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận như yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 mang tên bà Trần Thị S, phía nguyên đơn cho rằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tư cách là đại diện cho đồng sở hữu là không đúng vì cho rằng trong đó có 35,38m² là tài sản riêng của bà S và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đảm bảo theo di chúc của cụ T2. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong phạm vi vụ án này và đình chỉ giải quyết yêu cầu này của nguyên đơn là chưa đúng. Tuy nhiên, Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt trong trường hợp có căn cứ cho rằng quyết định này rõ ràng trái pháp luật. Trong vụ án này, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Q với tư cách đại diện cho các đồng sở hữu là phù hợp với ý chí của cụ T2 tại di chúc và phù hợp với thỏa thuận của các anh chị em trong gia đình, trong đó có bà Q nên việc đình chỉ giải quyết yêu cầu này không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà Q nên Hội đồng xét xử không hủy phần nội dung này, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Trên cơ sở phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị S là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng như sau:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S về việc “Tranh chấp di sản thừa kế; Tranh chấp Quyền sử dụng đất; Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất” với bị đơn ông Trần Thanh Q.
  2. Đình chỉ yêu cầu hủy Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 431288 thửa đất số 303, tờ bản đồ số 22, diện tích 63,28m² do UBND thành phố Đ cấp ngày 19/6/2006 mang tên bà Trần Thị S.
  3. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị S được miễn án phí phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP, ĐTM.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 982/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsdđ

  • Số bản án: 982/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế; Tranh chấp Quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị S, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 28/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger