|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 981/2024/HS-PT Ngày: 06- 11- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Năng Thành
Các Thẩm phán: ông Hoàng Nhật Tân và ông Đinh Quốc Trí
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Duy Trung- Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Đặng Khánh Hưng- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 820/2024/TLPT- HS ngày 23 tháng 09 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quốc V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024/HS- ST ngày 09 tháng 08 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo kháng cáo: Trần Quốc V; sinh năm 1986, tại Hà Nội; nơi cư trú:
số F, tổ I, phường T, H, Hà Nội; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị T (đều đã chết); gia đình có 02 anh em (bị cáo là con thứ hai); chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: ngày 26/4/2006, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai (Hà Nội) xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 06/10/2006); ngày 22/12/2008, Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 10 năm tù về các tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (ra trại ngày 17/4/2019); ngày 27/5/2021, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (ra trại ngày 03/01/2023); ngày 09/11/2023 (Bản án số 258/2023/HS- ST), Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo kháng cáo và rút đơn kháng cáo nên ngày 05/3/2024, Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội ra
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 149/2024/HSPT- QĐ (chưa chấp hành án phạt tù; bị tạm giữ từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023); đều chưa được xoá án tích;
Nhân thân: từ năm 2003 đến năm 2005, đã 05 lần bị xử lý hành chính về các hành vi Cướp giật tài sản, Trộm cắp tài sản và cai nghiện bắt buộc;
Bị cáo Trần Quốc V bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024, tại Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H; có mặt.
* Ngoài ra, còn có các bị cáo Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Văn Đ, những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/3/2024, Công an phường P tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Ngọc A về việc bị trộm cắp 01 xe máy điện GoGo màu trắng vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/3/2024 tại sân Nhà thờ H5 (phường P, H, Hà Nội). Khoảng 21 giờ ngày 12/3/2024, tổ công tác của Công an quận H và Công an phường P phát hiện Trần Quốc V điều khiển xe máy Honda Wave màu đen (BKS: 29K1- 526.43) chở Nguyễn Ngọc H đang lưu thông tại khu vực trước số nhà C, phố K (H, Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính và đưa các đối tượng liên quan về trụ sở Công an phường P làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Quốc V và Nguyễn Ngọc H đều khai nhận đã cùng nhau thực hiện 03 vụ Trộm cắp tài sản (bao gồm cả vụ việc của anh Nguyễn Ngọc A) và bán tài sản cho đối tượng Nguyễn Văn Đ. Cơ quan điều tra đã xác minh và thu giữ hình ảnh của V, H trộm cắp tài sản tại sân Nhà thờ H5 (H, Hà Nội) và trước cửa nhà số H ngách A ngõ A L (H, Hà Nội).
Nguyễn Văn Đ thừa nhận biết rõ 03 chiếc xe do H và V mang đến bán là tài sản trộm cắp nhưng vẫn mua lại để bán lại kiếm lợi. Đ đã bán 01 xe máy điện “GOGO” cho ông Phạm Văn P (sinh năm 1963; trú tại: xã Đ, K, Hưng Yên); bán 01 xe máy điện Romas cho anh Vũ Hoàng H1 (sinh năm 1991; trú tại: tổ A
phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình); còn 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu “Lyva”, Đ đang cất giữ tại kho ở chợ G và tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Ngọc H: 01 xe máy Honda Wave màu đen- bạc, BKS: 29K1- 526.43, số khung: 1255FY092502, số máy: HC12E7092615; 01 ví màu nâu dạng gập ngang, kích thước dạng gập là 12,5x9,6cm, bên trong có 7.300.000 đồng và 01 (một) giấy CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE MÔ TÔ, XE MÁY số “011202” (nội dung: chủ xe: BÙI VIỆT KIÊN; địa chỉ: 50/667/2 N, Tổ B, Đ. G, LB; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE AL; màu sơn: Đen- bạc; số máy: HC12E7092615; số khung: 1255FY092502; biển số đăng ký: 29K1- 526.43; đăng ký lần đầu: ngày 19/01/2016 do Công an quận L cấp); 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu xanh nước biển, số IMEI 1: 354813604457273; IMEI 2: 356766634457275, lắp sim điện thoại số: 0984.911.xxx.
Tạm giữ của Trần Quốc V: 01 điện thoại Samsung Galaxy A03 màu đen, số imei1: 352617420038874, sim số 0362678346; 01 áo khoác nam màu cam- xanh, có in dòng chữ “Ahamove ĐỈNH CAO GIAO HÀNG”, đã cũ.
Tạm giữ của Nguyễn Văn Đ: 01 điện thoại di động Nokia 3310 màu ghi (không rõ chất lượng, bên ngoài xây xước); 01 điện thoại di động Iphone XS max- 64Gb màu đen cũ (không rõ chất lượng); 01c xe máy điện “Lyva” màu đen lắp biển kiểm soát: 36-MĐ1-474.85 có số khung: RL9Y4EKVNLAB00143; số máy: EFOO60V800W18040079 cũ, đã qua sử dụng không rõ chất lượng.
Tạm giữ của Vũ Hoàng H1 05 xe máy điện, bao gồm: 01 xe máy điện “RomaS” màu đỏ (không đeo biển kiểm soát, số khung: RRWY4EKUMJSV010- 78, số máy: TY60V800W180301043); 01 xe máy điện “VIPER” màu đỏ (không đeo biển kiểm soát, số khung: 201604200000033, số máy: B30BC60V201604- 03065); 01 xe máy điện “NIJIA” màu đen (không đeo biển kiểm soát, số khung: RPLY4 EJUMNHU010- 60, số máy: CLMVEK006169); 01 xe máy điện không rõ nhãn hiệu màu đen (không đeo biển kiểm soát, số khung: RL9Y4EKUMBS- 00641, số máy: HFT60V- 800WC1190300641); 01 xe máy điện “dibao” màu trắng, không
đeo biển kiểm soát, số khung: RL9YTEK5DJAF03414 và số máy: QS60V1000W1580510354594.
Tạm giữ của anh Phạm Huy T1 (con trai ông Phạm Văn P): 01 xe máy điện “GOGO” màu trắng, không đeo biển kiểm soát; số khung: RMPY8EKGNKVU1014; số máy: JZ60V800W190300146NP.
Tại Kết luận giám định số 2726 ngày 16/4/2024, Phòng K1- Công an Thành phố H kết luận (bút lục 16): (1)Xe máy điện nhãn hiệu GOGO, không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: RMPY8EKGNKVU- 10146; số máy nguyên thủy: JZ60V800W190300146NP. (2)Xe máy điện nhãn hiệu LYVA, đeo biển kiểm soát: 36MĐ1-474.85; số khung nguyên thủy: RL9Y- 4EKVNJAB00143; số máy nguyên thủy: EF0060V800W18040079. (3)Xe máy điện nhãn hiệu ROMAS, không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: RRWY4EKUMJSV01078; số máy nguyên thủy: TY60V800W180301043. (4)Xe máy điện nhãn hiệu VESPA không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: 201604200000033; số máy hiện tại bị ô xi hóa, han rỉ nên không xác định. (5)Xe máy điện nhãn hiệu NIJIA, không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: RPLY4EJUMN- HU01060; số máy nguyên thủy: CLMVEK006169. (6)Xe máy điện không dán nhãn hiệu, không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: RL9Y4EKUMJBS00641; số máy nguyên thủy: HFT60V800WC1190300641. (7)Xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, không đeo biển kiểm soát; số khung nguyên thủy: RL9YTEK5DJAF03414; số máy nguyên thủy: QS60V1000W180510- 354594. (8)Xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, đeo biển kiểm soát: 29K1- 526.43; số khung nguyên thủy: RLHHC1255FY092502; số máy nguyên thủy: HC12E7092615.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1986 ngày 22/3/2024, Hội đồng định giá tài sản kết luận (bút lục 13- 15): 01 (một) xe máy điện màu trắng đen nhãn hiệu GOGO không đeo biển kiểm soát; số khung: RMPY8EKGNKVU10146; số máy: JZ60V800W190300146NP trị giá 5.500.000 đồng. 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu “Lyva” màu đen; biển kiểm soát: 36-MĐ1- 474.85; số khung: RL9Y4EKVNJAB00143; số máy: EFOO60V 800W18040079 trị giá 7.000.000 đồng. 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu “ĐK RomaS” màu đỏ, không đeo biển kiểm soát; số khung: RRWY4EKUMJSV01078; số máy: TY60V800W18- 0301043 trị giá 4.000.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định: tháng 03 năm 2024, V gặp lại H do trước đây, V và H đi tù cùng nhau, V bàn với H sẽ đi trộm cắp xe đạp điện để lấy tiền tiêu xài; V điều khiển xe máy chở H qua các tuyến phố để tìm xe máy điện sơ hở, không người trông giữ rồi thực hiện hành vi trộm cắp. Khi phát hiện tài sản có sơ hở, H xuống xe và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, V cảnh giới ở bên ngoài và hỗ trợ đẩy xe ra khỏi hiện trường; sau đó, V và H mang xe đến bán cho Nguyễn Văn Đ (mua bán xe điện tại chợ Giời):
Vụ thứ nhất: khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, V điều khiển xe máy Honda Wave màu đen (BKS:29K1- 526.43) chở H đi trộm cắp tài sản; khi đến khu vực Nhà thờ H5 thì phát hiện 01 xe máy điện nhãn hiệu “Gogo” (trị giá 5.000.000 đồng) của anh Nguyễn Ngọc A để ở sân Nhà thờ không ai trông giữ. V dừng xe máy đợi ở ngoài để cảnh giới, H đi bộ vào và dắt chiếc xe máy điện để trong sân ra, V điều khiển xe Wave từ phía sau và dùng chân đẩy xe máy điện (H ngồi lên xe máy điện) về khu vực gần cầu M. Khi đến nơi, H và V gọi điện cho Nguyễn Văn Đ ra mua xe; V và H thỏa thuận và bán được 3.000.000 đồng, H nhận tiền và chia cho V 1.500.000 đồng; Đ biết chiếc xe là do trộm cắp mà có.
Vụ thứ hai: trưa ngày 11/3/2024, V điều khiển xe máy Honda Wave màu đen (BKS:29K1- 526.43) chở H trên đường, phát hiện có 01 xe “RomaS” màu đỏ (trị giá 4.500.000 đồng) của anh Lê Hồng L để ở trước cửa nhà số H ngách A ngõ A L (H). V dừng xe cảnh giới, H vào dắt chiếc xe máy điện ra; V và H đẩy xe về khu vực cầu M rồi gọi điện cho Nguyễn Văn Đ, bán được 1.900.000 đồng, V nhận tiền, chia cho H 800.000 đồng; Đ biết chiếc xe do trộm cắp mà có.
Vụ thứ ba: khoảng 17 giờ ngày 12/3/2024, V điều khiển xe máy Honda Wave màu đen (BKS:29K1- 526.43) chở H đi đến khu vực Trần Duy H2 và phát hiện 01 chiếc xe máy điện màu đen để ở vỉa hè; V dừng xe cách 10- 20m để cảnh giới, H đi đến dắt xe máy điện ra; các đối tượng đẩy xe máy điện về khu vực ngã tư chợ Mơ và gọi điện cho Đ ra mua xe; Đ điều khiển xe máy điện chở theo vợ là Nguyễn Thị Q đến rồi Q đi xe máy điện về trước. Đô đến gặp và thỏa thuận mua xe với giá 2.400.000 đồng, H là người cầm tiền rồi V điều khiển xe chở H đi đến phố K thì bị tổ công tác của Công an kiểm tra hành chính, bắt giữ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc H và Trần Quốc V khai nhận: do vừa ra tù, không có công việc, không có tiền tiêu xài và trước đây các đối tượng đã nhiều lần trộm cắp tài sản nên V bàn với H cùng đi trộm cắp tài sản, số tiền chiếm đoạt được sẽ chia đều cho cả hai. Trong các ngày 06/3/2024, 11/3/2024 và 12/3/2024. H và V đã thực hiện trót lọt 03 vụ trộm cắp xe máy điện. V được hưởng lợi 2.600.000 đồng. H được hưởng lợi 2.300.000 đồng. Số tiền 2.400.000 đồng bán chiếc xe trộm cắp ngày 12/3/2024, H chưa kịp chia cho V thì bị Cơ quan điều tra bắt và thu giữ. H khai trong số tiền 7.300.000 đồng bị thu giữ có 2.400.000 đồng là tiền vừa bán xe cho Đ, còn số tiền 4.900.000 đồng là tiền của H. V và H không thỏa thuận trước với Đ về việc Đ sẽ tiêu thụ tài do các đối tượng trộm cắp để bán cho Đ.
Nguyễn Văn Đ khai nhận: Đ làm nghề mua bán xe máy cũ tại chợ Trời từ năm 2017; hàng ngày, vợ chồng Đ thường ngồi tại khu vực cổng Chợ G (H) để thu mua xe đã qua sử dụng rồi bán lại kiếm lời. Tháng 03 năm 2024, khi V mang xe đến bán thì Đ thấy xe không có giấy tờ, không có chìa khóa xe, ổ khóa lại bị hỏng và bản thân V lại thường xuyên đến bán xe trong thời gian ngắn nên Đ biết nguồn gốc những chiếc xe do V mang đến bán đều là xe do trộm cắp mà có nhưng Đ vẫn mua vì ham lời do mua được xe rẻ hơn giá thực tế trên thị trường, chỉ cần sửa lại ổ khóa và bán để thu lời.
Trong các ngày 06/3/2024, ngày 11/3/2024 và ngày 12/3/2024, Đ đã mua 03 chiếc xe điện do V và H trộm cắp. Đô thay ổ khóa rồi bán chiếc xe máy điện màu trắng nhãn hiệu “GoGo” cho ông Phạm Văn P (sinh năm 1963; trú tại: Đ, K, Hưng Yên) với giá là 3.300.000 đồng; bán chiếc xe máy điện đỏ cho anh Vũ Hoàng H1 (sinh năm 1991; trú tại: tổ G phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình) với giá là 2.200.000 đồng; chiếc xe của vụ thứ ba, Đ cất ở kho tại Chợ G và chưa kịp bán thì bị phát hiện nên Đ tự nguyện giao nộp xe này cho Cơ quan điều tra.
Khi giao dịch bán xe, Đ không nói về nguồn gốc xe do trộm cắp mà có; Đ1 đã hưởng lợi là 600.000 đồng; ông P và anh H1 thấy Đ có kho bán xe tại chợ Giời, có đủ khóa và việc mua bán là ngay thẳng nên đã mua mà không nghi ngờ gì về nguồn gốc. Ngoài ra, do kinh doanh mua bán xe máy điện đã qua sử dụng nên Đ
còn thu mua xe của những nguời không có nhu cầu sử dụng nữa để bán lại, cụ thể Đ mua 04 xe máy điện của một số người không quen biết, sau đó bán lại cho anh Vũ Hoàng H1. Khi mua xe, Đ không hỏi nguồn gốc các xe này, do thời gian mua bán đã lâu nên Đ không nhớ giá mua xe. Khi mua xe, H1 cũng không hỏi về nguồn gốc của những chiếc xe trên.
Đối với Nguyễn Thị Q: là vợ của Nguyễn Văn Đ và thỉnh thoảng có đến phụ giúp chồng, việc mua và bán xe máy điện là do Đ giao dịch với khách hàng, Q không biết và không tham gia. Ngày 12/3/2024, do Q đến chợ Mơ nên Đ nhờ đưa ra điểm hẹn, Q đã về trước và không biết gì về các hành vi của Đ. Xét Q không tham gia, không biết hành vi phạm tội của Đ nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thị Q.
Đối với anh Nguyễn Hà Đ2 (sinh năm 1998; trú tại: số G ngõ A T, H, Hà Nội; con trai của Đ): anh Đ2 khai nhận thỉnh thoảng Đ có mượn tài khoản của anh Đ2 để nhận tiền chuyển khoản của khách; anh Đ2 rút tiền mặt ra đưa lại cho Đ, không biết việc Đ sử dụng tài khoản vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nguyễn Hà Đ2.
Anh Vũ Hoàng H1 khai: năm 2017, H1 mở cửa hàng sửa chữa, mua bán xe máy điện tại số B ngõ B Đ (H); H1 thường xuyên đến khu vực chợ Giời tìm mua phụ tùng thay thế và mua xe điện cũ về bán lại cho người dùng. H1 đã gặp và quen vợ chồng Đ, Q và biết Đ bán xe cũ tại cổng chợ nên H1 xin số điện thoại của Đ, hẹn khi nào có xe bán thì gọi để H1 qua xem và thỏa thuận mua bán. H1 đã mua nhiều xe đạp và xe máy điện của Đ, thường các loại xe này đều đã cũ và không đeo BKS, có xe có đăng kí có xe không có đăng kí. H1 hỏi thì Đ bảo xe mua lại của người dân và thấy bình thường dòng xe này có giá trị thấp nên người dân rất ít khi đi đăng kí nên H1 tin tưởng là xe có nguồn gốc hợp pháp. Đến năm 2022, H1 chuyển về Thái Bình sống nên việc mua bán giao dịch đều qua điện thoại và trả tiền vào tài khoản. Đô gửi xe cho H1 qua nhà xe Đ3 ở khu vực cây xăng T2.
Kết quả điều tra xác định: ngày 11/3/2024, H1 đã mua chiếc xe máy điện màu đỏ của Đ với giá 2.200.000 đồng. Trước đó, H1 còn mua của Đ 04 xe máy điện với giá từ 2.000.000 đồng đến 2.500.000 đồng/xe, bao gồm: 01 xe máy điện
“VIPER” màu đỏ, không đeo biển kiểm soát, SK: 201604200000033, SM: B30BC60V20160403065; 01 xe máy điện “NIJIA” màu đen, không đeo biển kiểm soát, SK: RPLY4EJUMNHU01060, SM: CLMVEK006169; 01 xe máy điện không rõ nhãn hiệu màu đen, không đeo biển kiểm soát, SK: RL9Y4EK- UMBS00641, SM: HFT60V800WC1190300641; 01 xe máy điện “dibao” màu trắng, không đeo biển kiểm soát, SK: RL9YTEK5DJAF03414, SM: QS60V1- 000W1580510354594.
Anh H1 khai nhận khi mua xe máy điện thì anh H1 không biết nguồn gốc xe do trộm cắp mà có, chỉ biết là xe cũ đã qua sử dụng; đối với số xe do anh H1 đã mua của Đ và bị Cơ quan điều tra thu giữ, anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự đối với Nguyễn Văn Đ; do không đủ căn cứ xác định anh H1 biết nguồn gốc số xe đạp điện mua của Đ là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Ngày 07/5/2024 (bút lục 326 và 390), Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả tài sản cho các anh Nguyễn Ngọc A và Lê Hồng L; anh Ngọc A và anh L không yêu cầu bổ sung về bồi thường dân sự.
Ông Phạm Văn P khai nhận: ngày 07/3/2024, ông P đã mua từ Đ 01 chiếc xe máy điện màu trắng “GoGo” với giá 3.300.000 đồng; sau đó, ông P đã bán lại cho anh Hoàng Văn S (sinh năm 1980; trú tại: thôn K, xã Đ, K, Hưng Yên); khi mua xe máy điện, ông P không biết là xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý; ông P không yêu cầu Đ phải bồi hoàn 3.300.000 đồng.
Anh Hoàng Văn S khai nhận: ngày 09/3/2024, anh S mua của ông Phạm Văn P chiếc xe máy điện trên với giá 6.500.000 đồng. Sau khi được ông P thông báo là tài sản do người khác phạm tội mà có, anh S đã mang xe trả lại và được ông Phú H3 lại 6.500.000 đồng. Khi mua xe, anh S không biết chiếc xe là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với Hoàng Văn S.
Kết quả xác minh về xe máy Honda Wave màu đen (BKS: 29K1-526.43) xác định: xe đăng ký lần đầu đứng tên Bùi Việt K (sinh năm 1991; trú tại: số E N, tổ A, phường Đ, L, Hà Nội); tháng 11 năm 2023, anh K bán xe cho anh Nguyễn Ngọc H4 (sinh năm 1980; trú tại: thôn D, T, Đ, Hà Nội); anh H4 cho em trai là
Nguyễn Ngọc H mượn xe để làm phương tiện đi lại nhưng không biết và không liên quan đến việc H dùng xe để đi trộm cắp tài sản.
Ngày 09/5/2024 (bút lục 389), Cơ quan điều tra đã Quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy điện Lyva màu đen do V, H trộm đã Trộm cắp ngày 12/3/2024 tại vỉa hè tòa nhà T ngày 12/3/2024 (do chưa xác định được bị hại) và 04 chiếc xe máy điện đã thu giữ của Vũ Hoàng H1 (đều chưa xác định được bị hại) để tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024/HS- ST ngày 09/8/2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số 01/2024/TB- TA ngày 26/8/2024, Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc V phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38 và 56 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quốc V 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp với hình phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 258/2023/HS- ST ngày 09/11/2023 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 149/2024/HSPT-QĐ ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; buộc bị cáo Trần Quốc V phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 59 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024, được trừ thời gian đã tạm giữ (theo Bản án số 258/2023/HS- ST ngày 09/11/2023 nêu trên) từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; quyết định về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/8/2024, bị cáo Trần Quốc V có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phân tích về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 56 và 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp với hình phạt 27 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 258/2023/HS- ST ngày 09/11/2023 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng thành hình phạt chung là 59 tháng tù; Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lực pháp luật nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Quốc V phù hợp quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận của bị cáo Trần Quốc V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, phù hợp lời khai của đồng phạm, bị cáo khác, người bị hại, đương sự và người làm chứng, phù hợp với các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án- Đủ cơ sở kết luận: khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, Trần Quốc V và Nguyễn Ngọc H đã lén lút, bí mật lấy trộm 01 xe máy điện màu trắng- đen nhãn hiệu “GO GO”, trị giá là 5.500.000 đồng của anh Nguyễn Ngọc A (để tại sân Nhà thờ H5, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội); trưa ngày 11/3/2024, Trần Quốc V và Nguyễn Ngọc H tiếp tục lấy trộm 01 xe máy điện nhãn hiệu “ĐK RomaS” màu đỏ, trị giá là 4.000.000 đồng của anh Lê Hồng L (để tại cửa nhà số H ngách A ngõ A L, quận H, Thành phố Hà Nội); tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 9.500.000 đồng; Trần Quốc V đã có 04 tiền án (ngày
26/4/2006, ngày 22/12/2008, ngày 27/5/2021 và ngày 09/11/2023), về các tội Trộm cắp tài sản, Mua bán trái phép chất ma túy, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và đều chưa được xóa án tích. Hành vi của Trần Quốc V đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo V theo tội danh đã viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm, đúng như quy kết của Bản án sơ thẩm và xin giảm nhẹ hình phạt.
[3] Trong đồng phạm về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo Trần Quốc V là đối tượng khởi xướng, chỉ huy và tích cực thực hành hành vi phạm tội nên bị cáo V có vai trò chính và chịu trách nhiệm cao nhất trong đồng phạm. Bị cáo V “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “có hoàn cảnh kinh tế và gia đình khó khăn”, “có bệnh hiểm nghèo” và “tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại người bị hại” là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Trần Quốc V 32 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật và tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò tham gia của bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội trình bày tại phiên tòa phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Quốc V; đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo V phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết về án phí.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2024/HS- ST ngày 09/8/2024 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo Trần Quốc V:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 56 và 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 32 (ba mươi hai) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tổng hợp với hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 258/2023/HS- ST ngày 09/11/2023 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 149/2024/HSPT- QĐ ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; buộc bị cáo Trần Quốc V phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 59 (năm mươi chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2024, được trừ thời gian đã tạm giữ (theo Bản án số 258/2023/HS- ST ngày 09/11/2023 nêu trên) từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Quốc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định của Bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Văn Đ; về xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM NĂNG THÀNH |
Bản án số 981/2024/HS-PT ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 981/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Quốc V phạm tội Trộm cắp tài sản
