|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 980/2024/DS-PT
Ngày: 03-12-2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Thẩm phán:
- Bà Phạm Thị Thảo
- Bà Huỳnh Thị Như Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án dân sự Toà án nhân dân Thành phố H, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 731/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 2073/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 4596/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16123/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quang H(chết năm 2022)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:
- Bà Bùi Hoài Linh Đ năm 1985. Địa chỉ: Số 12/31, đường T, Tổ 2, Khu phố 5, phường H, thành phố T, Thành phố H
- Bà Nguyễn Thị Phương T năm 1954. Địa chỉ: Tổ D, Khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1 T Ông Đặng Văn T1sinh năm 1983. Địa chỉ: B chung cư H, số D Hậu Giang, Phường A, Quận F, Thành phố H(theo văn bản ủy quyền ngày 01/4/2023 và văn bản ủy quyền ngày 31/8/2023) (có mặt)
Bị đơn: Bà Cẩm Quý D năm 1971. Địa chỉ: Số E, đường D, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố H(có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Ông Phạm Ngọc H1(có mặt)
- Hoặc ông Nguyễn Thế T1 năm 1977 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A, Phường B, Quận F, Thành phố H
(theo Văn bản ủy quyền ngày 23/4/2024)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Tuyết M năm 1961. Địa chỉ: Số A F, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố H(vắng mặt)
- Bà Bùi Hoài Linh Đ năm 1985. Địa chỉ: Số A, đường T, Tổ B, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố H
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Ông Đặng Văn T2 năm 1983. Địa chỉ: B chung cư H, số D, đường H, Phường A, Quận F, Thành phố H(theo Văn bản ủy quyền ngày 01/4/2023) (có mặt)
- Bà Cẩm Quế N, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số E, đường D, Tổ A, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố H(vắng mặt)
- Ông Vũ Kim D1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số A Đường C, phường P, thành phố T, Thành phố H
Người đại diện theo ủy quyền của ông D1: Ông Mai Lâm P năm 1983. Địa chỉ: Số A A, phường H, thành phố T, Thành phố H(Văn bản ủy quyền ngày 07/10/2017) (vắng mặt)
- Ông Vũ Văn H2, sinh năm 1954. Địa chỉ: Số E, đường D, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố H(vắng mặt)
- Ông Ngô Tùng T3. Địa chỉ: Số E Đường E, Khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố H(vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C Đường số A, Tổ B, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/4/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Quang H (chết năm 2022) có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L Đ và bà Nguyễn Thị Phương T4 ông Đặng Văn T5 diện trình bày:
Tháng 12/2016, ông Trần Quang H3 nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Tuyết M1 đất diện tích 193m² thuộc thửa số 575, 576 tờ bản đồ số 29, phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố HPhần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 01317 do Ủy ban nhân dân Quận I(nay là thành phố T), Thành phố H ngày 28/6/2011, cập nhật biến động sang tên cho ông Trần Quang H4 09/12/2016.
Tháng 02/2017, ông H5 thăm đất thì phát hiện bà Cẩm Quý D2(chủ sử dụng đất giáp ranh với phần đất trên của ông H6 dựng bức tường gạch có chiều cao 1,3m, chiều dài 22m chồng ranh sang phần đất của ông Hông H7 đơn nhờ Ủy ban nhân dân phường T giải quyết nhưng bà D22 đến nên không hòa giải được. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà D3 dỡ bức tường gạch chiều cao 1,3m, chiều dài 22m và trả cho nguyên đơn ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 phần đất diện tích 13,8m² (số thứ tự 6 Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Hlập ngày 18/8/2017) thuộc thửa 575 tờ bản đồ số 29 (tài liệu 2003), phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H
Tại Đơn đề nghị ngày 06/5/2024 (nộp qua đường bưu điện), bị đơn bà Cẩm Quý D4 bày: Tháng 7/2015, bà có mua lại thửa đất số 656 và 657, tờ bản đồ số 29, phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H bà Nguyễn Thị A1 Giấy chứng nhận số CH04192 do Ủy ban nhân dân Quận I ngày 13/8/2014. Khi mua đất từ bà A2 đất đã được cắm mốc bằng trụ bê tông, có hàng gạch cao khoảng 30cm làm ranh giới với các thửa đất liền kề, thời điểm bà D5 đất, chủ sử dụng đất liền kề khi đó là ông Nguyễn Thanh D6(thửa 270, 271) và bà Nguyễn Thị Thùy D7(thửa 575, 576) cũng sử dụng đất căn cứ hiện trạng các ranh mốc đã được cắm sẵn trước đó và đều không có bất kỳ tranh chấp nào.
Bà Nguyễn Thị Tuyết M2 lại thửa đất 575, 576 từ bà Nguyễn Thị T6 D3vào ngày 09/10/2015, nhưng mãi đến tháng 6/2016, bà M3 phát hiện có sự sai lệch về ranh đất, bà M4 khởi kiện bà D8 Tòa án nhân dân Quận 9 và Tòa án nhân dân Quận 9 đã thụ lý vụ án, ngày 11/01/2017 mới đình chỉ do bà M5 đơn khởi kiện. Trong khi đó, việc bà M6 nhượng thửa đất 575 và 576 cho ông H4 09/12/2016, nghĩa là bà M6 nhượng đất cho ông H8 khi đất vẫn đang tranh chấp với bà DNhư vậy, ông H9 khởi kiện bà M7 bà M8 rõ đất đang tranh chấp nhưng vẫn chuyển nhượng cho ông H10 trái quy định của pháp luật.
Hơn nữa, căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh số 19528/ĐÐÐBÐ-CNTĐ do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Hlập ngày 10/3/2016, cũng như nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H được ghi nhận trong bản án số 698/2019/DS-PT ngày 07/8/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố H thì một phần nhà ông Nguyễn T7 D2bà Lê Thị X đã xây dựng sang ranh đất mà bà D9 Ủy ban nhân dân Quận I giấy chứng nhận số BV 018586. Do đó, khi giải quyết tranh chấp này cần phải đưa Ủy ban nhân dân Quận I tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xác định ranh đất giữa ông Hbà D10 hộ liền kề đất bà D10 hộ ông Nguyễn T7 D2theo giấy chứng nhận mà các đương sự đã được cấp so với ranh đất hiện trạng thực tế.
Bà Dđề nghị Tòa án chỉ định Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Htiến hành đo vẽ, xác định ranh toàn bộ khu đất bao gồm các thửa 656, 657 của bà D11, 721 của hộ ông Nguyễn T7 D2thửa 575, 576 của ông Trần Quang H11 các thửa đất liền kề trực tiếp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Kim D12 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Bùi Hoài Linh Đ3 nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bà Nguyễn Thị Tuyết M9 bày: Tháng 12/2016, bà có chuyển nhượng cho ông Trần Quang H12 đất diện tích 193m² thuộc thửa số 575, 576 tờ bản đồ số 29, phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố HThời điểm chuyển nhượng đất, bà D13 xây dựng bức tường gạch trên đất.
Ông Ngô T8 T3bà C Nvà ông Vũ Văn H13 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Bà Nguyễn Thị A3 bày: Năm 2014, bà có nhận chuyển nhượng của anh em ông Ngô T8 T3phần đất diện tích 99,6m², đến năm 2015, bà chuyển nhượng lại cho bà D14 đất 656, 657 tờ bản đồ số 29, phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H bàn giao đất, bà D15 đo đạc đầy đủ. Sau này bà D16 dựng tường rào bà không biết. Bà không có ý kiến gì trong vụ án này.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu buộc bà Cẩm Q Dtháo dỡ bức tường gạch chiều cao 1,3m, chiều dài 21m và trả cho nguyên đơn ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 phần đất diện tích 13,8m² (số thứ tự 6 Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Hlập ngày 18/8/2017) thuộc thửa 575, tờ bản đồ số 29 (tài liệu 2003), phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H
Bị đơn bà Cẩm Quý D17 ông Phạm Ngọc H14 diện theo ủy quyền trình bày: Bà D22 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án chỉ định Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Htiến hành đo vẽ, xác định ranh toàn bộ khu đất bao gồm các thửa 656, 657 của bà D11, 721 của hộ ông Nguyễn T7 D2thửa 575, 576 của ông Trần Quang H11 các thửa đất liền kề trực tiếp. Đưa Ủy ban nhân dân thành phố T Lê Thị X1 gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa, vụ liên quan để xác định ranh đất giữa ông H15 Dhộ ông Nguyễn T7 D2và hộ liền kề đất của bà D18 đó để bị đơn yêu cầu ông Nguyễn T7 D2và bà Lê Thị X2 trả lại cho bà D19 đất mà ông D2bà Xđã lấn sang phần đất của bà D
Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ để làm rõ thửa đất 575 và 575-2 là một thửa hay có sự tách thửa, nếu có tách thửa thì từ thời gian nào, căn cứ pháp lý cho sự tách thửa.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng quy định của pháp luật. Việc cấp tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập tài liệu làm rõ thửa đất 575 và 575-2 là một thửa hay có sự tách thửa, nếu có tách thửa thì từ thời gian nào, căn cứ pháp lý cho sự tách thửa.
Tại Bản án sơ thẩm số 2073/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H đã tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Cẩm Quý D20 tháo dỡ bức tường gạch có chiều cao 1,3m, chiều dài 21m, dày 10cm xây dựng trên phần đất thuộc thửa số 575 tờ bản đồ số 29 (Tài liệu 2003), phường T, thành phố T, Thành phố H
Bà Cẩm Quý Dphải có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 phần đất diện tích 13,8m² (số thứ tự 6 Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T9 ngày 18/8/2017) thuộc một phần thửa 575 tờ bản đồ số 29 (Tài liệu 2003), phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H
- Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 43/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố H khi thi hành xong bản án.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L Đ chịu các chi phí tố tụng đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 07/6/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 230/QĐKNPT- VKS-DS vì cho rằng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã có Công văn số 345 ngày 26/6/2024 yêu cầu Tòa sơ thẩm xác minh nội dung: “Đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố T biết thửa 575 và 575-2 là một thửa hay có sự tách thửa, nếu có tách thửa thì từ thời gian nào, căn cứ pháp lý cho sự tách thửa”.
Nhưng Tòa cấp sơ thẩm đã không xác minh thu thập chứng cứ và nhận định phần đất có diện tích 13,8m² thuộc một phần thừa 575 tờ bản đồ số 29 (Tài liệu 2003, phường T, Quận I nay là thành phố Tthuộc quyền sử dụng của ông Trần Quang H11 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn 13,8m² là chưa đủ cơ sở. Do Tòa cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và nội dung nên đề nghị Tòa cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy bản án sơ thẩm.
Ngày 10/6/2024, bị đơn bà Cẩm Q Dcó đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 2073/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H với lý do Tòa cấp sơ thẩm xử không đúng thực tế vi phạm tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà cẩm Quý D21 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Nguyên đơn đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cẩm Q Dđề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung:
Đối với kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã có Quyết định số 567 ngày 28/10/2024 rút toàn bộ Quyết định kháng nghị số 230 ngày 07/6/2024 do đó đề nghị hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn: Xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn bà Cẩm Quý D22 có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, đề nghị căn cứ Khoản 1 Điều 308 giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H đã rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 230/QĐKNPT-VKS-DS ngày 07/6/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T. Do đó Hội đồng xét xử phúc phẩm chấp nhận và đình chỉ đối với việc rút quyết định kháng nghị này.
Xét thấy, Đơn kháng cáo của bị đơn bà Cẩm Quý D23 trong thời hạn kháng cáo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Bị đơn bà Cẩm Q Dđề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì cấp sơ thẩm chưa cho đối chất giữa những người liên quan là bà Nguyễn Thị A4 bà Nguyễn Thị Tuyết M10 làm rõ nguồn gốc đất và không đưa Ủy ban nhân dân Thành phố T tham gia tố tụng.
Xét thấy, Căn cứ Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa chỉ cho tiến hành đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự. Do các đương sự chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất không có yêu cầu hủy giấy chứng nhận nên tòa cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân Thành phố T tham gia tố tụng là có căn cứ đúng pháp luật. Các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc đất của mình là hợp pháp chứ không phải là Ủy ban nhân dân.Vì Ủy ban nhân dân chỉ công nhận quyền sử dụng hợp pháp về quyền sử dụng đất khi người sử dụng đất cung cấp đầy đủ các giấy tờ tài liệu chứng minh theo quy định của pháp luật về đất đai.
Xét thấy, căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hai bên nguyên đơn và bị đơn được công nhận là 02 thửa đất khác nhau, cụ thể nguyên đơn được công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 575 và 576 còn bị đơn được công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 656 và 657. Đối chiếu với phần diện tích đất mà các bên đang tranh chấp có diện tích 13,8m² thấy phần đất này thuộc một phần thửa đất số 575 đã được công nhận quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Việc bị đơn cho rằng phần diện tích 13,8m² thuộc quyền sử dụng của bị đơn nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Mặt khác tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn cũng thừa nhận phần diện tích đất thực tế đúng với phần phần diện tích đất được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đó càng chứng minh phần diện tích 13,8m² không thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn.
Xét thấy, Tòa cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết đã xác minh làm rõ nguồn gốc đất thể hiện qua việc căn cứ vào Công văn số 3212 của Ủy ban nhân dân Quận I được nêu trong phần nhận định của Bản án sơ thẩm và quyết dịnh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Cẩm Q Dtháo dỡ bức tường gạch chiều cao 1,3m, chiều dài 21m và trả cho nguyên đơn ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 phần đất diện tích 13,8m² (số thứ tự 6 Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở T9 Hlập ngày 18/8/2017) thuộc thửa 575 tờ bản đồ số 29 (tài liệu 2003), phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H có căn cứ đúng pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H
[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn bà Cẩm Quý D20 chịu án phí dân sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 38, Điều 148, Khoản 1 Điều 228, Điều 298, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 230/QĐKNPT-VKS-DS ngày 07/6/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố H.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Cẩm Quý D24 yêu cầu hủy bản án sơ thẩm.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 2073/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H.
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bà Cẩm Quý D20 tháo dỡ bức tường gạch có chiều cao 1,3m, chiều dài 21m, dày 10cm xây dựng trên phần đất thuộc thửa số 575 tờ bản đồ số 29 (Tài liệu 2003), phường T, thành phố T, Thành phố H
Bà Cẩm Quý Dphải có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 phần đất diện tích 13,8m² (số thứ tự 6 Bản đồ hiện trạng vị trí - xác định ranh do Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố T9 ngày 18/8/2017) thuộc một phần thửa 575 tờ bản đồ số 29 (Tài liệu 2003), phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố H
3.2. Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 43/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 9 (nay là thành phố T), Thành phố H khi thi hành xong bản án.
3.3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L Đ chịu các chi phí tố tụng đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá.
3.4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Cẩm Quý D20 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Trả lại cho ông Trần Quang H3 người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là bà Bùi Hoài L1 9.425.000 (chín triệu, bốn trăm, hai mươi lăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: AA/2016/0002602 ngày 13/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T), Thành phố H
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi bổ sung năm 2014).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Cẩm Quý D20 chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027800 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố H lập.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thủy |
Bản án số 980/2024/DS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 980/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 2073/2024/DS-ST ngày 27/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố H
