|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 980/2024/HS-PT Ngày: 05-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Nhã
Ông Trương Thành Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 873/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 do có kháng cáo của bị cáo N và bị cáo N1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Kim N, sinh ngày 01/10/1990 tại xã D, huyện T, TP Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn B, xã D, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim L và bà Vũ Thị M; Vợ: Trần Thị Thu H; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2023;
- - Ngày 18/12/2011, bị Công an quận Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Ngày 17/7/2013, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc theo Bản án số 45/2013/HSST.
- Cảnh Chi N1, sinh ngày 28/9/1994 tại xã T, huyện Đ, TP Hà Nội; Nơi thường trú: Cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cảnh C và bà Đặng Thị N2 (Đông Thị N3); Vợ: Nguyễn Thị H1; Con: Có 01 người con sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 05/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 23/12/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích.
Nhân thân: Ngày 07/3/2013, TAND huyện Từ Liêm xử phạt 33 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 63/2013/HSST.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 05/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có 05 bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2022, Nguyễn Văn H2 có vay của Nguyễn Quang H3 số tiền 32.000.000 đồng. H2 đã trả được cho H3 số tiền 10.000.000 đồng, còn nợ 22.000.000 đồng. Đến ngày 02/3/2023, H3 liên lạc hỏi tiền thì H2 hứa hẹn trả thêm 10.000.000 đồng, nên H3 gọi điện cho Nguyễn Kim N (là em xã hội của H3) nhờ đến gặp H2 lấy tiền giúp H3. Cùng ngày, N gọi điện hẹn H2 đến tối ngày 03/3/2023 đến lấy tiền nợ giúp H3.
Khoảng 20h30' ngày 03/3/2023, N đi xe ô tô nhãn hiệu Huyndai BKS:29V-7889 đến quán B1 của gia đình H2 tại thôn Y, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội để lấy tiền, N đỗ xe ô tô trước cửa quán B1, rồi đi xuống dốc đứng ngoài cổng thì N nhìn thấy H2 và chị Nguyễn Thị H4 (là vợ của H2) đang đứng ở sân nên N gọi to “Anh H2 ơi”, H2 liền đi ra ngoài cổng và đứng đối diện với N nói “Đ. mẹ mày, tao có vỡ nợ đâu mà mày gọi to thể”, rồi lao vào dùng tay phải tát N liên tiếp 02 phát vào má bên trái. Thấy vậy, H4 ra căn ngăn và bảo N “về đi, anh H2 đang say rượu để mai nói chuyện”, “anh ý uống rượu rồi, đừng nói nữa không lại đánh nhau” rồi H4 đẩy H2 vào trong nhà, thì N nói với H2 “anh đánh em thế này không được đâu” rồi N ra xe ô tô lấy điện thoại gọi cho Cảnh Chi N1 (là bạn xã hội của N) nói: “Anh lên đây lấy tiền bị thằng H2 nó đánh, mày ở đâu, ra đây”. Lúc này, N1 cùng Phạm Văn H5, Phan Quang H6, Nguyễn Văn T, Đoàn Thanh C (đều là anh em xã hội với N và N1) đang ngồi uống nước ở quán K Về gần dốc T, xã P, huyện Đ, TP Hà Nội. Nghe thấy N nói bị đánh nên N1, H5, H6, T và C rủ nhau đi lên chỗ N.
Sau khi đẩy H2 vào nhà, H4 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn M1 (là anh trai của H2) nói “anh đang ở đâu đấy, có thằng nào đến nhà gây gổ, đánh nhau với anh H2”, một lúc sau thì M1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream đi một mình đến nhà H2.
Do Cảnh C1 N1 quen biết với Lê Văn T1 là lái xe taxi hiệu “Trôi-Phùng” từ trước, thỉnh thoảng có gọi cho T1 đến chở khách tại quán K, nên N1 đã gọi điện cho T1 bảo đến đón cả nhóm đi đến chỗ N. Lúc này, T1 đang chở khách từ bệnh viện Đ1 đi về H, nên T1 đã từ chối. Sau đó, N1 gọi điện đến tổng đài taxi T2 – P bảo cho xe taxi đón nhóm N1. Do đã trả khách xong tại H trên đường quay về thì T1 thấy tổng đài báo đàm đón khách tại quán K1, T1 đã nhận đàm đồng ý đón khách. Lúc này, H5 đi một mình ra vườn phía sau quán Karaoke lấy 02 chiếc tuýp sắt, dài chừng 01 mét rưỡi, một đầu có gắn dao nhọn (hay gọi là phóng lợn); 01 chiếc tuýp sắt dài khoảng 70 cm, hai đầu bằng; 01 chiếc tuýp sắt gắn dao quắm dài chừng 80 cm, phần lưỡi dao sắc dài chừng 40 cm, bản rộng lưỡi dao 4 cm và 01 chiếc dao dài khoảng 50 cm có chuôi bằng gỗ dài khoảng 10 cm, phần lưỡi sắc, bản rộng lưỡi 4 cm, mang ra để ở trước cửa quán, để sử dụng làm hung khí mang đi lên gặp N, cả nhóm đều nhìn thấy.
Khi Lê Văn T1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 30G-238.78, của hãng taxi T2-Phùng đến, đỗ xe ở mép đường bên phải hướng đi lên đê, cách cổng quán Karaoke M Về khoảng 4 mét. T1 ngồi trên xe báo đàm về tổng đài để mời khách ra xe, rồi N1 cầm dao quắm đi ra mở cửa phía trước lên ngồi bên ghế phụ cạnh ghế lái, khi lên xe N1 để dao quắm nằm ở sát cửa bên phải; H5 cầm 01 chiếc phóng lợn và 01 chiếc dao lên xe taxi và để nằm ở vị trí để chân hàng ghế sau, ngay sau lưng ghế lái và ghế phụ, rồi H5 tiếp tục xuống xe lấy 01 chiếc phóng lợn và 01 chiếc tuýp sắt còn lại mang lên xe taxi, để nằm ở vị trí để chân hàng ghế sau, sau lưng ghế lái và ghế phụ, rồi ngồi luôn trên xe. Khi H5 mang những hung khí lên xe taxi do T1 điều khiển thì có phát ra tiếng va đập kim loại “leng keng” nên T1 biết nhóm N1 mang hung khí lên xe, nhưng do trời tối, lại bị che khuất nên T1 không biết nhóm N1 mang cụ thể những hung khí gì. Sau đó, lần lượt H6, T và C lên xe taxi, C ngồi sát cạnh bên trái H5, cạnh cửa sau bên trái, H6 ngồi giữa H5 và T ngồi sát cạnh cửa sau bên phải.
Khi tất cả nhóm của N1 lên xe taxi thì N1 giục T1 đi nhanh “Anh chở em lên qua cầu P”, N1 không bảo T1 chở đi đánh nhau nhưng T1 hiểu được nhóm N1 mang theo hung khí lên xe taxi đi đến P là để đánh nhau, T1 không phản đối gì và cũng không bị ép buộc gì. Đến khoảng 21h00' cùng ngày, T1 lái xe chở nhóm của N1 qua cầu P rồi rẽ trái thì thấy xe của N đỗ ở ven đường trước cửa quán B1. Thấy vậy, T1 dừng xe lại đỗ trước đầu xe xe ô tô của N, rồi N1 cầm dao quắm, H5 cầm 02 chiếc phóng lợn, H6 cầm tuýp sắt, T cầm dao và C mở cửa ra khỏi xe taxi. Lúc này, T1 xuống đóng cửa xe ô tô, qua ánh đèn xe của N thì T1 nhận thấy nhóm của N1 mang theo 01 dao quắm, 02 chiếc phóng lợn, tuýp sắt và dao. Nhóm của N1 đi lại chỗ xe ô tô của N đang đỗ, thì N lấy chiếc gậy rút ba khúc ở trên xe ra cùng nhóm của N1 tụ tập trước cửa quán B1 của nhà H2, sát mặt đường tránh Quốc lộ C cũ, là khu dân cư sinh sống. Các đối tượng liên tục hò hét gọi H2 ra, N nói “H2 ơi ra nói chuyện”, H6 nói “Mày ra đây nói chuyện với anh em tao”, N1 gọi “Anh H2 ơi”. Thấy nhóm N1, N cầm theo hung khí hò hét gọi H2 để đánh nhau, thì T1 không lái xe ô tô đi mà đứng chờ nhóm N, N1 để chở về. Lúc đó, N có nhặt gạch ném vào trước sân của quán B1, không thấy H2 hay ai trả lời nên N1 cầm theo hung khí đi xuống dốc đứng ngoài cổng gọi H2, nhưng trời tối không thấy ai nên cả nhóm lại đi lên đứng trước cửa quán tụ tập. Sau đó, H5 để 01 chiếc phóng lợn ở gốc cây và nhặt gạch và ném về phía trước sân cửa quán B1, C nhặt chiếc phóng lợn H5 để tại gốc cây và cùng cả nhóm cầm hung khí đứng trước cửa quán. N lại tiếp tục ném chiếc gậy rút ba khúc cầm trên tay vào sân của quán B1, bất ngờ nghe thấy tiếng nổ “pộp, pộp”, phát ra từ trong quán B1 của gia đình H2 (mọi người nghi là tiếng súng), cùng lúc đó thì N thấy đau tại mặt ngoài đùi phải và bị chảy máu. Nghĩ là H2 dùng súng bắn nên hô “nó bắn ở trong nhà ra đấy”. Cả nhóm hoảng sợ chạy ra xe ô tô ẩn nấp, mang theo 01 chiếc phóng lợn, 01 tuýp sắt và 01 dao quắm lên xe taxi, H5, H6 và T lên xe taxi ngồi hàng ghế sau; còn C và N1 mang theo 01 chiếc phóng lợn và 01 con dao lên xe ô tô của N. Sau đó, N lái xe chở C và N1 đi theo hướng đập tràn về Bệnh viện Đ1, T1 lái xe taxi chở H5, H6 và T đi theo phía sau, về đến Bệnh viện Đ1, thì N1 bảo T1 lái xe chở số hung khí để trên xe của T1 mang về quán Karaoke M Về cất hộ, rồi T1 lái xe taxi mang theo 01 chiếc phóng lợn, 01 tuýp sắt và 01 dao quắm về quán K1 cất giấu.
Hậu quả: Nguyễn Kim N bị thương tích tại mặt ngoài đùi phải, đã được phẫu thuật lấy dị vật trong đùi phải là 01 (một) mảnh kim loại, bị khâu 5 mũi, dài 7 cm. Sau khi bị thương tích N được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện Đ1, rồi chuyển đến Bệnh viện Đ2-Pôn cấp cứu và điều trị, từ ngày 03/3/2023 đến 08/3/2023 ra viện.
Ngày 16/3/2023, Phòng C3 Công an thành phố H đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H2. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ việc.
Đồ vật, tài liệu đã thu giữ gồm:
- - 01 (một) USB ghi nhãn hiệu Kington màu đen, lưu trữ dữ liệu trích xuất Camera tại hiện trường do Công an xã H, huyện P giao nộp.
- - 01 (một) đầu thu camera màu trắng, nhãn hiệu dahua, số S/N 5H09350PAZ21E21, đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị H4 giao nộp.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 355825083567967 do anh Nguyễn Văn H2 giao nộp
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, đã qua sử dụng, số IMEI: 356772089058683 do anh Nguyễn Văn H2 giao nộp.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu ghi, đã qua sử dụng, số Imei 353890100286142 do Nguyễn Kim N giao nộp.
- - 01 (một) tuýp sắt, một đầu gắn dao nhọn, dài khoảng 1m45, phần lưỡi dao dài khoảng 25cm, bản rộng lưỡi dao khoảng 7 cm do anh Đỗ Văn B (quản lý quán K1) giao nộp.
- - 01 (một) tuýp sắt, một đầu gắn dao quắm, tổng chiều dài khoảng 90cm, phần lưỡi dao dài khoảng 30cm, đầu nhọn cong về phía lưỡi dao, bản rộng lưỡi 5cm do anh Đỗ Văn B giao nộp.
- - 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 50cm do anh Đỗ Văn B giao nộp.
- - 01 (một) mảnh kim loại màu xám bạc kích thước 1x0,8cm (có độ dày không đồng đều từ 0,1 đến 0,2 cm) do Bác sỹ Phạm Duy Đ bệnh viện Đ2-Pôn giao nộp.
- Đối với 01 (một) tuýp sắt dài khoảng 1 mét 50, một đầu có hàn gắn thêm dao bầu, phần lưỡi dao dài khoảng 20cm (hay gọi là phóng lợn); 01 (một) con dao dài khoảng hơn 50cm, phần chuôi bằng gỗ dài khoảng 10cm, phần lưỡi dài khoảng 40cm, đầu nhọn và 01 (một) chiếc gậy rút ba khúc là hung khí mà các đối tượng khai đã sử dụng để thực hiện hành vi Gây rối trật tự công cộng vào ngày 03/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng đến nay không thu giữ được.
Về kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 03/4/2023, V- Bộ C4 có Kết luận giám định số 1938/KL-KTHS, kết luận: Mẫu kim loại gửi giám định là đạn chì hình nấm, được bắn ra từ loại súng hơi thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Khi sử dụng loại súng nêu trên bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.
Ngày 28/3/2023, V- Bộ C4 có Kết luận giám định pháp y thương tích số 1999/KL-KTHS, kết luận: -Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với sẹo tại mặt ngoài 1/3 đùi phải (vết thương và phẫu thuật) nằm dọc kích thước trung bình của Nguyễn Kim N tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương tại 1/3 giữa đùi phải của Nguyễn Kim N do mảnh kim khí gây ra.
Ngày 26/6/2023, V- Bộ C4 có Kết luận giám định số 3251/KL-KTHS, kết luận:
- + Đầu thu nhãn hiệu Dahua, số S : 5H09350PAZ21E21 bên trong có 01 ổ cứng nhãn hiệu WD, dung lượng 1TB, có số S/N: WCC4J2KK7N3D: Không tìm thấy dữ liệu trong ngày 03/3/2023.
- + Điện thoại di động IPHONE màu đen có số IMEI: 355825083567967: Trích xuất được: 68 tin nhắn SMS, 4706 tin nhắn Zalo, 371 tin nhắn Facebook Messenger, dữ liệu Email, 269 nhật ký cuộc gọi, 6062 file audio, 373 file video, 48389 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại gửi giám định, tuy nhiên không xác định được có liên quan đến nội dung vụ việc hay không.
- + Điện thoại di động IPHONE màu trắng có số IMEI: 356772089058683: Trích xuất được: 27 tin nhắn SMS, 1161 tin nhắn Zalo, 448 tin nhắn Facebook Messenger, dữ liệu Email, 290 nhật ký cuộc gọi, 47571 file audio, 795 file video, 68300 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại gửi giám định, tuy nhiên không xác định được có liên quan đến nội dung vụ việc hay không.
- + Điện thoại di động IPHONE có số IMEI 1: 353890100286142, IMEI2: 353890100350138: Trích xuất được: 592 tin nhắn SMS, 7077 tin nhắn Zalo, 1363 nhật ký cuộc gọi, 160 file audio, 326 file video, 19944 file ảnh lưu trữ trong máy điện thoại gửi giám định, tuy nhiên không xác định được có liên quan đến nội dung vụ việc hay không.
Xử lý đồ vật, tài liệu đã thu giữ:
- - Đối với 01 (một) USB ghi nhãn hiệu Kington màu đen, lưu trữ dữ liệu trích xuất Camera tại hiện trường do Công an xã H, huyện P giao nộp, được niêm phong trong phong bì dán kín chuyển theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với 01 (một) chiếc đầu thu camera màu trắng, nhãn hiệu dahua, số S/N 5H09350PAZ21E21, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 355825083567967; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, đã qua sử dụng, số IMEI: 356772089058683. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án hay hành vi vi phạm pháp luật nào khác. Ngày 20/5/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho chị Nguyễn Thị H4 và anh Nguyễn Văn H2, chị H4 và anh H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu ghi, đã qua sử dụng, số Imei 353890100286142. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Kim N dùng chiếc điện thoại này để gọi điện cho nhóm C2 Chi N1 đến rồi có hành vi gây rối trật tự công cộng. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục THADS huyện P để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với 01 (một) chiếc tuýp sắt, một đầu gắn dao nhọn, dài khoảng 1m45, phần lưỡi dao dài khoảng 25cm, bản rộng lưỡi dao khoảng 7 cm; 01 (một) chiếc tuýp sắt, một đầu gắn dao quắm, tổng chiều dài khoảng 90cm, phần lưỡi dao dài khoảng 30cm, đầu nhọn cong về phía lưỡi dao, bản rộng lưỡi 5cm; 01 (một) chiếc tuýp sắt dài khoảng 50cm do anh Đỗ Văn B (chủ quán K1) giao nộp. Quá trình điều tra xác định, những đồ vật hung khí trên là của các đối tượng dùng để gây rối trật tự công cộng được T1 mang về cất giấu tại quán. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục THADS huyện P để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Đối với mảnh kim loại màu xám bạc kích thước 1x0,8cm (có độ dày không đồng đều từ 0,1 đến 0,2 cm) do Bác sỹ Phạm Duy Đ bệnh viện Đ2-Pôn giao nộp là dị vật được lấy ra từ vết thương tại đùi bên phải của Nguyễn Kim N xác định là đạn chì hình nấm, được bắn ra từ loại súng hơi thuộc súng săn. Tuy nhiên quá trình điều tra đến nay chưa xác định được ai là người dùng súng bắn gây thương tích cho Nguyễn Kim N. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với vật chứng này để tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Kim N, Cảnh C, Phan Quang H6, Phạm Văn H5, Nguyễn Văn T, Lê Văn T1, Đoàn Thanh C về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự;
Bản án Hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58, 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt: - Nguyễn Kim N 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 05/02/2024.
- Cảnh C1 Ngà 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 05/02/2024.
Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 29/7/2024, bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 kháng cáo. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Kim N, Cảnh Chi N1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo;
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì mới. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:
Tối ngày 03/3/2023, Nguyễn Kim N, Cảnh C, Phan Quang H6, Phạm Văn H5, Nguyễn Văn T, Đoàn Thanh C đã mang theo hung khí nguy hiểm (tuýp sắt, phóng lợn, dao quắm....) đến tụ tập, hò hét, chửi bới, ném gạch, đá, đồ vật vào trước cửa quán B1 của gia đình anh Nguyễn Văn H2, đã gây huyên náo, làm mất trật tự trị an tại khu vực ngã ba Cầu P thuộc địa phận thôn Y, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây dư luận xấu, làm cho quần chúng nhân dân sinh sống tại khu vực này hoang mang lo sợ.
Với hành vi phạm tội như trên bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 bị Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xử phạt về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng không có sự bàn bạc, phân công, sắp xếp vai trò của từng bị cáo mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cần phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự, đánh giá tính chất mức độ phạm tội của mỗi bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Bị cáo Nguyễn Kim Nghĩa là người có vai trò chính trong vụ án. Nghĩa là người khởi xướng, đã gọi điện cho C2 Chi N1 đến nhà H2. Cảnh Chi N1 sau khi nhận được điện thoại của N đã rủ thêm H5, H6, T, C đi cùng đến chỗ N. N và N1 đều là người thực hành tích cực nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N và N1 đều thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hai bị cáo đều có nhân thân xấu, chỉ có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo qui định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, các bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định pháp luật. Xét mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo N và bị cáo N1 là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Kim N, Cảnh Chi N1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HSST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội về hình phạt đối với các bị cáo;
- - Bị cáo Nguyễn Kim N 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến ngày 05/02/2024.
- - Bị cáo Cảnh Chi N1 28 (Hai mươi tám) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 05/02/2024.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Kim N, Cảnh C1 Ngà mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58, 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim N và bị cáo Cảnh Chi N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Xử phạt:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 980/2024/HS-PT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 980/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Phúc thẩm Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
