|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/DS-ST
Ngày: 29-7-2024
V/v T/c hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Lệ Hoa
Bà Lê Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thảo, Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 400/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Quách Minh T, sinh năm 1980, có mặt
- Địa chỉ cư trú: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc D, có yêu cầu vắng mặt
- Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 21/11/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Quách Minh T trình bày:
Vào khoảng tháng 3 đến tháng 5 năm 2023, ông có cho bà D vay mượn tiền, tổng cộng 60.000.000 đồng. Trong đó, chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng 02 lần, mỗi lần 20.000.000 đồng và đưa tiền mặt 01 lần số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận là 3%/tháng. Từ khi vay đến nay, bà D không thanh toán lãi và có trả được 30.000.000 đồng tiền vốn, trong đó chuyển trả qua tài khoản Ngân hàng 20.000.000 đồng và trả tiền mặt 10.000.000 đồng. Còn lại 30.000.000 đồng bà D chưa thanh toán.
Số tài khoản của ông là 7502205018578, Ngân hàng N, chi nhánh huyện T. Số tài khoản của bà D là 0104253605, Ngân hàng Đ.
Nay ông yêu cầu bà D thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 30.000.000 đồng. Ông không yêu cầu thanh toán lãi.
* Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2024, bà Nguyễn Ngọc D trình bày:
Do có quan hệ quen biết với ông T nên ông T có chuyển tiền giúp đỡ mẹ con bà với số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng, hẹn 10 ngày đến 20 ngày trả vốn. Thực tế bà D đã hốt hụi trả cho ông T được 20.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản và trả tiền mặt 10.000.000 đồng, trả tiền lãi 2.000.000 đồng. Đôi bên mượn tiền và trả tiền không có làm biên nhận. Do đã trả xong nợ nên bà không đồng ý thanh toán tiền theo yêu cầu của ông T. Số tài khoản của bà là 0104253605 mở tại Ngân hàng Đ.
Do đi làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh, không có mặt thường xuyên ở địa phương nên bà D xin vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Ngọc D thanh toán cho ông Quách Minh T 30.000.000 đồng. Ông T không yêu cầu tính lãi nên không đề nghị xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Quách Minh T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Ngọc D thanh toán tiền vay nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bà D có địa chỉ tại khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bà Nguyễn Ngọc D được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng có yêu cầu vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.
[3] Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thể hiện vào khoảng tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, ông T có cho bà D vay tiền. Việc này thể hiện tại bảng sao kê giao dịch số tài khoản của ông T và bà D. Theo chi tiết tại bảng sao kê thì ông T có chuyển tiền cho bà D 02 lần, mỗi lần 20.000.000 đồng vào các ngày 06/3/2023, 03/4/2023 và bà D có chuyển trả cho ông T 01 lần, số tiền 20.000.000 đồng, vào ngày 21/3/2023. Như vậy, xét về giao dịch chuyển khoản bà D còn nợ ông T 20.000.000 đồng.
Đối với số tiền ông T cho rằng đưa tiền mặt cho bà D 20.000.000 đồng và bà D đã trả ông tiền mặt 10.000.000 đồng, hiện bà D còn nợ lại ông 10.000.000 đồng. Mặc dù, ông T không cung cấp được biên nhận nhưng tại đoạn tin nhắn Zalo ông T cung cấp cho Toà án, có nội dung bà D thừa nhận còn nợ ông T số tiền 30.000.000 đồng. Đoạn tin nhắn này được thực hiện vào ngày 05/8/2023, tức là sau thời điểm các bên giao dịch chuyển khoản tiền cho nhau.
Đối với bà D, tại biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2024, bà D trình bày chỉ vay của ông T 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, giao dịch chuyển khoản thể hiện số tiền ông T chuyển đến tài khoản của bà D đã là 40.000.000 đồng. Bà D cho rằng đã chuyển khoản trả cho ông T 20.000.000 đồng và trả tiền mặt 10.000.000 đồng. Việc này phù hợp với lời trình bày của ông T là bà D đã trả cho ông 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà D không cung cấp được chứng cứ chứng minh chỉ vay của ông T 30.000.000 đồng và đã thanh toán xong. Điều này cũng mâu thuẫn với việc bà D thừa nhận còn nợ ông T 30.000.000 đồng tại đoạn tin nhắn Zalo (sau thời điểm các bên chuyển tiền cho nhau). Bà D cũng xác định khi vay tiền và khi trả tiền hai bên không có làm biên nhận. Nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bà D về việc chỉ vay 30.000.000 đồng và đã thanh toán xong tiền vốn và lãi cho ông T.
Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận trình bày của ông T. Việc bà D không thanh toán nợ cho ông T là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T. Vì vậy, cần buộc bà D thanh toán cho ông T số tiền 30.000.000 đồng.
Ông T không yêu cầu thanh toán lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về lãi suất chậm thi hành án: Bà D phải chịu theo quy định pháp luật.
[5] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Tại phiên tòa ông T có mặt nên thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày tuyên án. Bà D vắng mặt, nên thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Quách Minh T về việc yêu cầu bà Nguyễn Ngọc D thanh toán nợ vay. Buộc bà Nguyễn Ngọc D có nghĩa vụ thanh toán cho ông Quách Minh T số tiền vay còn nợ là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bà D chậm thanh toán khoản tiền nói trên thì bà D còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà D phải chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Ông T được nhận lại tiền nộp tạm ứng án phí 850.000 đồng (T1 trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015873 ngày 18/12/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình phát hành.
- Ông T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được niêm yết công khai bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Minh T - Nguyễn Ngọc D: Vay tài sản
