|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-12-2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Vi Thị Khuyên. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Cụt Văn Ỏn; |
| 2. Bà Bùi Thị Nga. |
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QÐST-DS ngày 13/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lương Văn V, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Lữ Thị M, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Lương Văn V vắng mặt, tuy nhiên theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lương Văn V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lữ Thị M lấy nhau từ năm 2012, đến ngày 06/8/2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm về thủ tục và điều kiện kết hôn. Thời gian đầu khi mới lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp. Hai bên đã cố gắng hàn gắn
nhưng không thể hòa giải. Anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M đã sống ly thân từ cuối năm 2014 cho đến nay. Hiện anh Lương Văn V không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Lữ Thị M.
Về con chung: Anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M có 01 con chung là cháu Lương Chí H, sinh ngày 22/9/2012. Nay ly hôn, anh Lương Văn V yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu chị Lữ Thị M cấp dưỡng.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh Lương Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh chị Lữ Thị M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, chị Lữ Thị M cũng không khai báo với chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã Chiêu Lưu và tại bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn chị Lữ Thị M vẫn vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204, 207, 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Về hôn nhân: Cho anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M được ly hôn; về con chung: Giao con chung là cháu Lương Chí H, sinh ngày 22/9/2012 cho anh Lương Văn V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị Lữ Thị M do anh Lương Văn V không yêu cầu; về tài sản chung, nợ
chung: Nguyên đơn anh Lương Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về án phí: Nguyên đơn anh Lương Văn V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Lương Văn V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lữ Thị M có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tại phiên tòa nguyên đơn anh Lương Văn V vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Lữ Thị M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng. Hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2014 đến nay. Xét thấy, hôn nhân của anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho anh Lương Văn V được ly hôn với chị Lữ Thị M.
[3.2] Về con chung: Anh Lương Văn V và Lữ Thị M có 01 con chung là cháu Lương Chí H, sinh ngày 22/9/2012. Nay ly hôn, anh Lương Văn V yêu cầu nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành, không yêu cầu chị Lữ Thị M phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Lương Chí H cũng có nguyện vọng được ở với bố. Xét thấy hiện nay chị Lữ Thị M thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết. Vì vậy, cần giao con chung là cháu Lương Chí H, sinh ngày 22/9/2012 cho anh Lương Văn V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến
khi con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do anh Lương Văn V không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với Lữ Thị M. Trường hợp anh Lương Văn V nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà chị Lữ Thị M có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị Lữ Thị M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Lương Văn V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị Lữ Thị M.
[3.3] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn anh Lương Văn V không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn anh Lương Văn V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Lương Văn V.
1. Về hôn nhân: Cho anh Lương Văn V được ly hôn với chị Lữ Thị M.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Chí H, sinh ngày 22/9/2012 cho anh Lương Văn V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị Lữ Thị M do anh Lương Văn V không yêu cầu. Chị Lữ Thị M có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh Lương Văn V là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà chị Lữ Thị M có căn cứ chứng minh thì chị Lữ Thị M có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp chị Lữ Thị M lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh Lương Văn V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị Lữ Thị M.
3. Về án phí: Anh Lương Văn V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu số 0004364 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An (Anh Lương Văn V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Lương Văn V và bị đơn Lữ Thị M vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |
Bản án số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 28/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 98/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lương Văn V và chị Lữ Thị M tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ
