|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 27/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tiêm.
- Ông Tòng Văn Loan.
- Thư ký phiên toà: bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: ông Tòng Thanh Quỳnh- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2024/TLST-HS, ngày 29/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 95/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/HSST, ngày 18/8/2024 đối với bị cáo:
Vì Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15 tháng 5 năm 1999 tạihuyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
Nơi ĐKHKTT và trú tại: bản H, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vì Văn K (đã chết) và bà Cà Thị T1, sinh năm 1979, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích, tại bản án số 124/2017/HSST, ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Cướp tài sản. Bị bắt tạm giữ từ ngày 09 tháng 4 năm 2024 đến ngày 10/4/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 20 phút, ngày 08/4/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – kinh tế Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường C, thành phố S phát hiện bắt quả tang Vì Văn T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong có chứa 03 (Ba) viên nén màu hồng (nghi là ma túy hồng phiến), T khai nhận là ma túy cất giữ để sử dụng.
Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 03 viên nén màu hồng đồng dạng trong gói giấy bạc có khối lượng 0,32 gam; lấy 02 viên có khối lượng 0,20 gam làm mẫu gửi giám định cho vào túi ni lon màu trắng dán kín lại, ký hiệu V, còn lại 01 viên có khối lượng 0,12 gam cho vào túi ni lon dán kín lại, làm mẫu lưu kho ký hiệu T.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 515/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 873/KL-KTHS, ngày 10/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu V gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,32 gam loại Methamphetamine".
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do đang bị bệnh lao phổi và đang điều trị tại Bệnh viện L, địa chỉ tại tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La, ngày 08/4/2024 bị cáo đi xe taxi từ Bệnh viện L lên thành phố S để tìm mua ma túy để sử dụng, khi đến bến xe khách Sơn La bị cáo đi bộ đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ A, phường C thì gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo trao đổi với người đàn ông này và mua được 01 gói giấy bạc bên trong có 03 viên ma túy hồng phiến với giá 300.000,đ, sau khi mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, khi bị cáo đi bộ được khoảng 50m thì gặp tổ công tác công an thành phố S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 192/CT-VKSTP, ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Vì Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Vì Văn T từ 18 đến 22 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; mẫu lưu T = 0,12 gam.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Vì Văn T nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Vì Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 08/4/2024, bị cáo Vì Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,32 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,32 gam loại Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 873/KL-KTHS, ngày 10/4/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vì Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Tại bản án số 124/2017/HSST, ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Cướp tài sản (đã được xóa án tích).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, bị cáo đã 01 lần bị xét xử về tội phạm hình sự và đã phải đi chấp hành hình phạt tù xong, đáng lẽ ra lần đi chấp hành hình phạt tù của bản án trước đây phải là bài học cho bị cáo để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của mình nhưng bị cáo không chịu khó rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, do đó cần phải có một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo khó có khả năng thi hành do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,12 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu T; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[7] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, miền núi, biên giới của tỉnh Sơn La, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm, do đó cần căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vì Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ đi 01 (Một) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải thi hành tiếp là 17 (Mười bảy) tháng 29 (Hai mươi chín) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và đến Trại giam (Trại tạm giam, Nhà tạm giữ) chấp hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Vì Văn T, sinh năm 1999 – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 08/4/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; mẫu lưu kho T = 0,12 gam”, mặt sau đã được niêm phong, đóng dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S và có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vì Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vì Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/8/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Lương Anh |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì Văn Tùng - Tàng trữ trái phép chất ma túy
