|
TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 27-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Lý Quang Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A P; giới tính: Nam; sinh năm 1960; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản T, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 01/10; Con ông Giàng A D, đã chết và con bà Sùng Thị K, đã chết; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Sùng Thị PLìa, sinh năm 1958; Con có 06 con: con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2024 đến ngày 15/6/2024 bị áp dụng biện C đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H -Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Giàng A P khai bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 08/6/2024, P đi bộ từ nhà ra đường tỉnh lộ 132 thuộc bản T, xã P, huyện P, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến nơi, P gặp hai người đàn ông dân tộc Dao không rõ lai lịch. Qua nói chuyện Pa mua của hai người đàn ông đó 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu trắng) giá 150.000 đồng. Mua được H1, P mang về nhà cấu một ít để sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, P cất giấu dưới gối trong giường ngủ không cho ai biết. Hồi 20 giờ 10 phút ngày 08/6/2024, Giàng A P đang ở nhà tại bản Trung Chải, xã P, huyện P thì bị Công an xã P phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, P tự giác lấy gói Heroine, 01 bật lửa ga màu đỏ và mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy (P dùng để sử dụng ma túy) giao nộp cho lực lượng Công an. Công an xã P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận giám định số 03 ngày 09/6/2024 của người giám định theo vụ việc kết luận: chất bột màu trắng trong 01 gói nilon màu trắng thu giữ của Giàng A P có khối lượng là: 0,218 gam. Tại bản Kết luận giám định số 713/KL-GĐ ngày 12/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Heroine.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKSPT ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Giàng A P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 54/KLĐT ngày 24/7/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt do bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ học vấn rất thấp, đã nhiều tuổi nên nhận thức pháp luật rất hạn chế; khi bị công an phát hiện đã tự giác giao nộp toàn bộ số Heroin và đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 20 giờ 10 phút ngày 08/6/2024, tại bản Trung Chải, xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Giàng A P đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,218 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P, huyện P phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy đã lâu nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn rất thấp (01/10); khi công án phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); quá trình sinh sống tại địa phương thường xuyên qua lại với các đối tượng nghiện chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,218 gam Heroine thu giữ của Giàng A P, Cơ quan điều tra đã trích 0,105 gam gửi giám định chất ma túy, không hoàn lại mẫu vật.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,113 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành ; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong đã mở; 01 bật lửa; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy đều không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Giàng A P khai mua của hai người đàn ông không rõ lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 17 ( Mười bảy) tháng tù, trừ 06 ( Sáu) ngày tạm giữ, còn lại 16 (Mười sáu) tháng 24 ( Hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt vào trại chấp hành hình phạt.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
4. Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,113 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong đã mở; 01 chiếc bật lửa; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy không có giá trị sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 09/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giàng A P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
