|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST
Ngày 27-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư
Bà Nguyễn Thị Biên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/2024/TB-TA ngày 07/5/2024 và số 06/2024/TB-TA ngày 15/5/2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Bình M, sinh năm 1991. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 6/12; con ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Phú D, sinh năm 1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, bị cáo M mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 15K1-061.81 của anh Phạm Phú D để đi ra ngoài có việc. M điều khiển xe mô tô đi từ xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến khu vực chân cầu vượt đường Xương Giang giao nhau với đường H để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, M gặp 01 nam thanh niên tên T, khoảng 30 tuổi. M hỏi T “ở đây có hàng không?” ý là có ma túy H không thì T bảo “có” nên M đưa cho T 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng là tiền mua ma túy. T bảo M đứng đợi một lúc, khoảng 15-20 phút sau T quay lại đưa cho M 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong đựng số ma túy mà M mua. Sau đó, M cầm vỏ bao thuốc lá bên trong đựng ma túy vừa mua bằng tay trái và điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 13 giờ, khi M đến khu vực đường H, thuộc tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi đó, do lo sợ nên M đã thả vỏ bao thuốc lá bên trong đựng ma túy đang cầm trên tay xuống nền đường.
Tang vật thu giữ được cho vào trong một phong bì thư dán kín niêm phong theo quy định gồm: 04 đoạn ống nhựa màu xanh có kẻ sọc trắng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được phát hiện thu giữ tại nền đường cạnh vị trí Nguyễn Bình M đứng khi bị bắt, tang vật do Nguyễn Bình M thả rơi từ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, thả bằng tay trái xuống đường khi bị bắt. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của M 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu sơn đỏ đen, BKS 15K1-061.81, xe cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ ngoài màu đen, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Nguyễn Bình M. Tại Kết luận giám định số 2549/KL-KTHS ngày 22/12/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 phong bì đã được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu xanh có kẻ sọc trắng hai đầu đều được hàn kín đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,207 gam, loại Heroine (Heroin)”
Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Bình M, kết quả M dương tính với ma túy “MOR”, đồng thời đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của M, kết quả không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã tiến hành phối hợp với Công an phường X, thành phố B rà soát hệ thông camera xung quanh khu vực chân cầu vượt giao giữa đường Xương Giang với đường H nhưng không phát hiện ra camera an ninh nào xung quanh vực nêu trên.
Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho M, M không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ rõ đặc điểm của người này nên không có căn cứ xác định người đàn ông tên T nêu trên để xử lý.
2
Đối với anh Phạm Phú D đã cho Nguyễn Bình M mượn xe mô tô BKS 15K1-061.81, anh D không biết M mượn xe để đi mua ma túy nên cơ quan Điều tra không có căn cứ xử lý đối với hành vi của anh D.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu sơn đỏ đen, BKS 15K1-061.81 cho anh Phạm Phú D
Tại Bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 02 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Bình M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo trình bày: Ngày 18/12/2023 bị cáo có mượn xe của anh D để đi mua ma túy H1 sử dụng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đang cầm ma túy đi về đến khu vực đường H, thuộc tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thì Công an kiểm tra bắt quả tang. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, bị cáo không có ý kiến gì.
- - Hội đồng xét xử công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình M từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- + Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ ngoài màu đen, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
- + Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- + Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
- - Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
- - Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Phú D vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai. Xét thấy sự vắng mặt của anh D không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi: Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 50 phút ngày 18/12/2023 của Công an phường D, thành phố B; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 13 giờ 25 phút ngày 18/12/2023; Kết luận giám định số 2549/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh B. Căn cứ lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại đường H, thuộc tổ dân phố G, phường D, thành phố B bị cáo Nguyễn Bình M có hành vi tàng trữ trái phép 0,207 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi tàng trữ trái phép 0,207 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất an cho người dân. Ma tuý là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến nhận thức, sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không làm chủ bản thân, đã cố ý phạm tội. Do đó, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
4
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật; để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định của khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Về vật chứng của vụ án:
[8.1] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu sơn đỏ đen, Biển kiểm soát 15K1-061.81 của anh D cho bị cáo mượn nhưng anh D không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy. Do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho D là đúng quy định.
[8.2] Đối với 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.3] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ ngoài màu đen, bị vỡ màn hình đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Bình M, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định của điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bình M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
5
[11] Để đảm bảo thi hành án, căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày.
[12] Các vấn đề khác
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đàn ông này để xử lý là đúng quy định.
Đối với hành vi anh Phạm Phú D cho bị cáo mượn xe mô tô BKS 15K1-061.81, anh D không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét hành vi của anh D là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 và khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo đúng quy định và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
- - Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ ngoài màu đen, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
- (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKS ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang)
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu
6
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
7
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma túy
